Monday, October 27, 2014

Cathedral (Thánh Đường) - Raymond Carver



Cũng như hai tập truyện ngắn trước, đối tượng của Carver trong Cathedral vẫn là những con người đại diện cho mặt trái giấc mơ Mỹ. Tuy nhiên, tập truyện ngắn Cathedral cho thấy một Carver khác hẳn với góc nhìn rộng hơn và phong cách thay đổi. Ở đó, nhân vật vẫn quẫy đạp trong những đổ vỡ, thất bại của cuộc sống, nhưng người đọc không còn thấy một không khí hoàn toàn ngột ngạt, bế tắc. Rõ ràng đây là cuốn sách mình thích nhất trong ba tập truyện của Carver, vì nó đem lại sự thỏa mãn và hy vọng. Nếu theo dõi cuộc đời thật của Carver, ta dễ thấy lý do của sự chuyển động sáng sủa này. Khoảng thời gian viết những truyện ngắn trong Cathedral là lúc cuộc sống Carver sang những trang mới khi bắt đầu sống chung với nhà thơ Tess Gallagher, người sau này trở thành vợ thứ hai của ông. Ngoài đời, Carver đã bỏ lại phần cuộc sống nghiện ngập, ngập ngụa sau cuộc đổ vỡ thứ nhất; trên trang giấy, ông ít nhiều từ bỏ luôn phong cách tiếp cận trước đây.

Một cách tổng thể, nhận định của nhà phê bình Adam Meyer là rất thích đáng khi so sánh quá trình biến hóa của bút pháp Carver qua ba tập truyện trông giống như một đồng hồ cát. Với Will You Please Be Quiet, Please? phong cách của Carver chưa rõ ràng, còn bung rộng để định hình. Với What You Talk About When You Talk About Love, văn phong trở nên cô đặc, tối giản. Đến Cathedral thì mọi thứ lại mở rộng, rời dần sự tối giản và trở nên sáng sủa hơn.

Trong phần lớn Cathedral, các câu chuyện xoay quanh chứng nghiện rượu. Các nhân vật bằng cách này hay cách khác cố tình cô lập mình với thế giới xung quanh, để trú ẩn vào rượu, cho dù họ rất cần sự cứu giúp của người khác. Nhưng càng tiếp xúc với sự giúp đỡ, họ càng chìm sâu và bế tắc hơn. Khác với các tập truyện trước, những người mắc kẹt, vô vọng này không hoàn toàn cô độc. Trong Fever, nhân vật chính không nghiện rượu nhưng leo lét tồn tại sau khi đã ly dị vợ, một mình nuôi con, bỗng tìm thấy sự cảm thông và ấm áp từ người giúp việc già (do chính cô vợ cũ giới thiệu). Người giúp việc già đóng vai cứu tinh, đã đem lại tia sáng hy vọng nơi cuối đường hầm, cũng như vai trò của người làm bánh trong truyện A Small, Good Thing. Truyện này được phát triển từ một truyện ngắn tương tự trong tập What You Talk About.. Có thể nói đây là truyện ngắn ấn tượng nhất trong toàn tập Cathedral: không khí câu chuyện căng thẳng, nuôi một cảm xúc thoi thóp nơi người đọc qua gần ba chục trang, đến đoạn cuối cả nhân vật lẫn người đọc đều được giải phóng một cách mạnh mẽ. Nếu đã quen với phong cách truyện ngắn Carver ở hai tập truyện trước, chắc hẳn ta sẽ khá ngạc nhiên với kiểu kết thúc này, cũng như sẽ ngạc nhiên với hình ảnh cuối truyện Cathedral, truyện ngắn chủ đề của toàn tập. Ở đó, người dẫn chuyện được một người mù khai sáng, hay nói thích đáng hơn là mở mắt, đưa đến một cái nhìn mới mẻ mà chưa bao giờ trong đời con người sáng mắt này được nhìn thấy. Khoảnh khắc đắt giá này lại được ví von với những khoảnh khắc của Sherwood Anderson.  

Có thể Cathedral là tập truyện mạnh mẽ, đem lại nhiều thỏa mãn khi đọc, nhưng đối với mình nó không được lắp ghép một cách tính toán, tỉ mỉ bằng một phong cách tối thiểu, mờ mịt như hai tập truyện trước. Và do đó không để lại nhiều băn khoăn.

VL

Sunday, September 21, 2014

What We Talk About When We Talk About Love - Raymond Carver



"Mình Nói Chuyện Gì Khi Mình Nói Chuyện Tình" là tựa tiếng Việt của “What We Talk About When We Talk About Love”, tập truyện ngắn được xem là nổi tiếng nhất của Raymond Carver. Nếu trong tập “Will You Please Be Quiet, Please?” trước đó, các nhân vật đều cho thấy sự lạc lõng, bối rối, trì trệ, thì trong “What We Talk..” các trạng thái bế tắc đều được đẩy xa hơn, đến mức bộc phát thành bạo lực.

Đương nhiên, những hình ảnh bạo lực như dùng búa đập chết vợ, ném đá chết người, hay cảnh vớt xác đều là những chi tiết dễ gây ấn tượng nhưng đó hoàn toàn không phải những gì hay nhất của Carver trong tập truyện này. Cái đặc sắc của “What We Talk..” là khả năng sắp đặt, lắp ghép các chi tiết và xây dựng một văn phong đặc trưng vô cùng công phu của tác giả. Khi đọc các truyện ngắn của Carver, đặc biệt là trong tập này, ban đầu tôi cảm thấy hụt hẫng nhưng đến lần đọc thứ hai thứ ba thì bắt đầu nhận ra những khoảng trống có chủ đích. Có thể nói rằng Carver cố tình xây dựng những tình tiết và kết thúc nó bằng một cách làm cho người đọc như nuốt không trôi gì đó ở cổ. Giống như bạn đọc một câu văn bị chừa trống những chỗ quan trọng và phải tự tìm từ thích hợp để điền vào. Đọc tập truyện này, ta cảm thấy những đường dẫn và chi tiết bắt cầu của cách kể chuyện truyền thống đều bị Carver loại bỏ không thương tiếc. Có lẽ vì vậy nhiều người đã gọi văn phong của Carver là tối giản?

Thế giới của Carver là khoảng tối của đường hầm không có ánh sáng, của những con người vật vờ với những vết thương cuộc đời. Những vết thương âm ỉ, nhức nhối của sự thất bại và cô đơn khi gia đình tan vỡ khiến nhân vật chính trong “Viewfinder” sẵn lòng mời người chụp ảnh dạo vào nhà. Tình huống này làm ta nhớ lại truyện người bán máy hút bụi trong tập “Will You Please..” Nhưng trong trường hợp trước, người chủ nhà có vẻ chỉ muốn sự có mặt của người salesman như một phương tiện lấp đầy khoảng trống, trong khi nhân vật chính trong “Viewfinder” muốn mời người chụp hình dạo què tay vào nhà để xem cách anh ta đối mặt và hành xử ra sao với vết thương khuyết tật của mình. Đó có thể là cách người chủ nhà, với nỗi đau đổ vỡ gia đình, làm dịu đi vết thương của chính mình khi quan sát một người khác đối mặt với nỗi đau và không may của họ. Hành động quan sát có chủ đích này, cuối cùng vẫn dẫn người quan sát quay về đối mặt với chính hình ảnh của mình, qua việc anh ta thấy cái đầu của mình đang nhìn ra cửa sổ trong tấm hình của người thợ chụp từ ngoài vào.

Cũng với mức độ đau khổ tương tự, người chủ nhà bán garage sale trong “Why Don’t You Dance?” lại chọn cách làm dịu vết thương của cuộc hôn nhân đổ vỡ bằng cách trưng bày nỗi đau của mình cho bàn dân thiên hạ xem, qua việc đem tất cả đồ dùng trong phòng ngủ, bàn ghế tủ giường bày hết ra sân nhà. Khi một cặp vợ chồng trẻ ghé vào coi, cô vợ trẻ cho rằng ông chủ nhà bán garage sale này chắc hẳn là “desperate or something”. Chi tiết này làm người đọc nhận ra sự vô vọng của người chủ nhà với vết thương của mình, đến nỗi anh ta phải tìm cách trưng bày nó ra ngoài, ngõ hầu chia bớt nỗi đau cho người khác như một phương cách cuối cùng để giải tỏa. Đoạn hội thoại không ăn nhập nhau của cặp vợ chồng trẻ và giọng văn người kể chuyện khô khốc, cộc lốc, đứt quãng gợi ý một liên tưởng từ nỗi bất hạnh của người chủ nhà đến hình ảnh đổ vỡ của cặp vợ chồng trẻ trong tương lai.

Các truyện ngắn khác trong tập này đều xoay quanh những ám ảnh vì đổ vỡ gia đình. Những ám ảnh này có thể chính là kết quả của một tâm thức luôn muốn chối bỏ, tránh mặt cuộc sống của thế giới nhân vật Carver. Ở đây, nhân vật của Carver cho thấy họ đã cố biến đổi, thích nghi với đau thương và thất bại bằng cách dịch chuyển sự quan tâm của họ vào những vấn đề khác. Nhân vật Dummy trong câu truyện ấn tượng “The Third Thing That Killed My Father Off” là ví dụ rõ nhất. Là một người thiểu năng, thiếu may mắn, mất khả năng diễn đạt bằng lời nói, Dummy luôn lo sợ không thể giữ được người vợ của mình. Chênh vênh trong đời sống gia đình, bất lực trong kiểm soát người vợ, Dummy dịch chuyển sự quan tâm và bực bội của mình vào bể cá trầm bằng cách rào bầy cá lại bằng hàng rào điện, bảo vệ chúng như báu vật, như thể anh đang ngăn người vợ khỏi nguy cơ ngoại tình. Kết cục bi thảm của câu chuyện và lời bình của một nhân vật: “Women..”, “That’s what a wrong kind of woman can do to you..” càng cho thấy rõ những đổ vỡ gia đình không hẳn là nguồn cơn của những vết thương âm ỉ của những con người đứng bên lề của giấc mơ Mỹ, như tất cả các nhân vật trong truyện của Carver. Họ đã quá lạc lõng, mất liên hệ với bản thân, và không còn biết đổ thừa cho ai, ngoài thất bại trong đời sống gia đình, để biện hộ cho cái thất bại chung to lớn hơn trong cuộc sống của chính họ.


VL

Tuesday, December 24, 2013

Luật miễn trừ ngoại giao với 2 trường hợp gần đây của Ấn Độ và Việt Nam


  
Gần đây dư luận thế giới và trong nước xôn xao với những vụ liên quan đến nguyên tắc “miễn trừ ngoại giao” (diplomatic immunity) trong luật quốc tế. Cách đây không lâu, một vị nữ quan chức lãnh sự của Ấn Độ tại Mỹ đã bị câu lưu và lục soát vì khai gian mức lương của một người giúp việc. Người dân ở Ấn Độ biểu tình phản đối Mỹ vì họ nghĩ rằng vị quan chức này bị phân biệt đối xử. Chính phủ Ấn Độ cũng cho rằng đáng lẽ ra Mỹ phải tôn trọng nguyên tắc miễn trừ ngoại giao được quy định trong Công ước Vienna về quan hệ ngoại giao năm 1961 của Liên hiệp quốc.

Thật ra, Liên hiệp quốc có hai bộ luật quy định cách đối xử cho những quan chức và nhân viên ngoại quốc. Thứ nhất là Công ước Vienna về quan hệ ngoại giao 1961, chủ yếu áp dụng cho người thuộc đại sứ quán. Thứ hai là Công ước Vienna về quan hệ lãnh sự 1963, áp dụng cho những người làm việc trong các lãnh sự quán. Có thể định nghĩa miễn trừ ngoại giao như một quy tắc để bảo vệ viên chức ngoại giao của nước ngoài không bị xét xử bởi pháp luật của nước sở tại. Quy tắc này giúp đảm bảo công việc ngoại giao giữa hai nước không bị ảnh hưởng. Khác với Công ước 1961, bộ luật 1963 cho lãnh sự chỉ cung cấp một mức độ miễn trừ ngoại giao hạn chế. Những nhân viên lãnh sự chỉ được miễn trừ ngoại giao khi chứng minh được họ đang thi hành công vụ trong lúc phạm tội. Trong trường hợp của nữ lãnh sự Ấn Độ, rõ ràng là việc mướn người giúp việc không liên quan gì đến công vụ của lãnh sự quán, mà chỉ là việc cá nhân. Có thể nói trong trường hợp này bên phía Mỹ không cho nữ lãnh sự Ấn Độ này hưởng quyền miễn trừ ngoại giao là đúng luật.

Ở một vụ khác gần hơn, đại sứ Việt Nam ở Thổ Nhĩ Kỹ là ông Nguyễn Thế Cường bị câu lưu ở sân bay Đức vì đem số tiền nhiều quá quy định. Câu hỏi ở đây là ông đại sứ này có được nhận miễn trừ ngoại giao của luật quốc tế không? Có người cho rằng ông là đại sứ Việt Nam ở Thổ Nhĩ Kỳ, nhưng lại phạm luật và bị câu lưu ở Đức (một nước thứ ba) thì ông không được hưởng quyền miễn trừ ngoại giao. Có thể điều này nghe cũng hợp logic, nhưng trong thực tế là không chính xác.


Trước hết, ông Cường là đại sứ nên Công ước Vienna về quan hệ ngoại giao 1961 sẽ được áp dụng. Công ước này cho các quan chức và nhân viên ngoại giao được hưởng một quyền miễn trừ ngoại giao rất lớn. Không những bản thân các vị quan chức ngoại giao mà cả gia đình của họ đi cùng đều được miễn trong trường hợp phạm tội. Vì vậy, nếu ông Cường phạm luật ở nước ông ta làm đại sứ thì khả năng lớn là ông ta sẽ được hưởng quyền miễn trừ ngoại giao trong hầu hết trường hợp. Chỉ khi ông phạm những tội nặng nề như giết người, hoặc Việt Nam chủ động bãi bỏ quyền miễn trừ ngoại giao của ông, thì pháp luật của Thổ Nhĩ Kỳ mới có thể đụng đến ông ta. Tuy nhiên, ở đây ông Cường phạm luật ở Đức, một nước thứ ba. Về trường hợp này, điều 40 của Công ước Vienna 1961 nói rằng nếu một nhà ngoại giao đặt chân lên một nước thứ ba trong hành trình đi đến nhiệm sở của mình, hoặc trên đường quay về đất nước quê hương, thì nước thứ ba phải đảm bảo quyền miễn trừ ngoại giao của người này, để không ảnh hưởng đến hành trình của ông ta. Ngoài ra, trong case United States v. Rosal (1960), tòa án đã công nhận rằng một nhà ngoại giao đang quá cảnh (diplomat-in-transit) sẽ được hưởng miễn trừ ngoại giao. Như vậy, theo bộ luật và theo án tiền lệ, có khả năng rất cao rằng ông Cường đại sứ Việt Nam tại Thổ Nhĩ Kỳ được hưởng miễn trừ ngoại giao tại Đức. Có nghĩa là an ninh sân bay Đức không có quyền câu lưu ông này vì tội đem quá tiền quy định. Đó là vì chúng ta biết ông Cường chỉ quá cảnh tại Đức trên đường từ Thổ Nhĩ Kỳ về Việt Nam. Nếu ông Cường không quá cảnh tại Đức trên hành trình công việc, mà đến Đức với mục đích cá nhân dài ngày thì có thể đó là một câu chuyện khác, và có khả năng ông sẽ không được hưởng miễn trừ ngoại giao. 

VL

Sunday, December 1, 2013

Will You Please Be Quiet, Please? - Raymond Carver



"Em Làm Ơn Im Đi, Được Không?" là tên bản tiếng Việt của tập truyện ngắn đầu tiên của Raymond Carver. Ở đây, Carver tập trung mô tả đời sống của lớp người Mỹ bình dân bằng kỹ thuật viết truyện ngắn rất khác lạ so với truyền thống. Qua ngòi bút Carver, người đọc hình dung ra một hiện thực lộm cộm, chông chênh, vô định từ những thân phận người lạc lõng trong một giấc mơ dang dở.

Xuyên suốt tập truyện là những câu chuyện đời thường mà nhân vật đa số đều bộc lộ những đặc điểm cho thấy họ dần mất phương hướng với cuộc sống, mất nhận thức về bản thân, và mất luôn sợi dây liên hệ với tha nhân. Với những nhân vật này, họ dường như bị một sức ì níu chân, một sức ì của giấc mơ Mỹ lý tưởng, khiến cuộc sống của họ tuy có vẻ bình thường nhưng lại rất bất thường.

Trong "Fat", qua cái nhìn của người nữ hầu bàn, hình ảnh người thực khách béo mập được kể lại thật mỉa mai. Anh ta dùng đại từ "chúng tôi" để đối thoại với những người phục vụ, trong lúc ăn hết món này đến món khác. Cơn đói của anh béo này không hẳn chỉ là cơn đói thức ăn mà còn là nỗi thèm khát sự cảm thông, thèm thuồng một người bạn. Người nữ hầu bàn và người bạn tên Rudy đều không đủ nhạy cảm để thấy được điều này. Cả hai trở về nhà, đầu óc không thôi nghĩ về hình ảnh người khách béo, nhưng lại không nhận ra bản thân chính họ cũng lạc lõng, đáng thương không kém.

Trong "Are You A Doctor?", Arnold nhận một cuộc gọi từ người đàn bà cô đơn, không bình thường, và sau vài cuộc đối thoại lạ lẫm với người này, Arnold tìm đến nhà cô ta. Những ràng buộc của một người đàn ông phương Tây trưởng thành, có vợ không cản nổi sự thèm khát một cái mới, một sự thay đổi. Tuy nhiên, cả hai không đi đến cùng với hành vi của mình. Rõ ràng sự thèm muốn của họ không phải là thú vui xác thịt. Ở đây, người đàn bà cô đơn và Arnold đều đáng thương như nhau.

"Jerry and Molly and Sam" viết khá lạ, khi đến gần cuối vẫn chưa thấy Jerry, Molly hay Sam xuất hiện. Trong truyện, nhân vật chính Al dồn sự bất mãn với cuộc sống, công việc và gia đình lên con chó Suzy và chở nó vất đi ở một nơi xa nhà. Nhưng khi Al nhận ra sự ích kỷ của mình và nỗi buồn của vợ và bọn trẻ, anh ta quay lại cố tìm con chó. Tuy nhiên, con chó Suzy thiếu trí khôn đã không còn nhận ra Al nữa. Cả câu chuyện là một chuỗi những việc không suôn sẻ; ngay cả hành động vất bỏ con chó cũng là một hành động không hoàn tất.

Cái cảm giác "loser" mà nhân vật Al mang lại còn được thấy ở nhiều nhân vật khác trong suốt tập truyện. "Sixty Acres" kể về Lee Waite, người chủ đất đi đuổi những tay săn thú lậu xâm phạm miếng đất của mình. Ông ta âm ỉ một nỗi bất an và phải gồng mình khi phải giáp mặt với kẻ lạ. Lee muốn cho thuê miếng đất để bớt gánh nặng kiểm soát nhưng lại hoàn toàn không rõ tí nào về giá trị miếng đất của mình.

Một sự mông lung trì trệ tương tự diễn ra trong truyện "Collectors". Người chủ nhà đang thất nghiệp chờ đợi thư từ bưu điện, nhưng lại bị cuốn hút một cách bị động vào sự xuất hiện của người tiếp thị máy hút bụi. Người tiếp thị già, béo, bệnh, mang dép, và biết về W. H. Auden cũng như Rilke, muốn thuyết phục người chủ nhà mua máy bằng cách hì hục hút bụi cả ngôi nhà của anh ta. Trong khi đó người chủ ngồi quan sát và nghĩ rằng anh ta chẳng cần mua máy hút bụi vì dù sao cũng sắp dọn đi, hơn nữa anh ta không có tiền. Cả hai đều hành động một cách bị động, quán tính. Có lẽ cả hai con người đều hiểu rõ sự vô ích của cuộc gặp gỡ, nhưng vẫn muốn níu kéo một chút hơi ấm người.

Những truyện khác trong tập này tiếp tục kể về motif tương tự của những con người lạc lõng, mất kết nối, trì trệ, bất mãn, bị đè nén trong một xã hội mặt trái của giấc mơ Mỹ. Tuy nhiên, cái hay của Carver là cách kể chuyện. Nhiều người bảo Carver là bậc thầy về phong cách truyện tối giản (minimalism), nhưng chính Carver có lần đã phủ nhận sự gán ghép này. Dù sao thì cách viết trong hầu hết truyện ngắn của tập "Will You Please.." đều rất quái dị nhưng cũng rất hấp dẫn. Có vẻ như chỉ có truyện ngắn cuối cùng "Will You Please Be Quiet, Please?" là được kể hơi bình thường một chút. Trong truyện, người chồng Ralph nghe người vợ Marian thú nhận ngoại tình. Ralph nổi giận, nhưng có vẻ như anh ta không giận vì cuộc ngoại tình, mà giận vì thấy ghê tởm với sự thua kém về mức độ thèm khát tính dục của mình so với người vợ. Câu nói "Will you please be quiet, please?" không hẳn là nói với người vợ, mà có thể Ralph muốn nói với tâm trí hỗn loạn của mình. Cuối cùng, truyện kết thúc với cảnh Ralph và vợ làm tình, cũng là lúc Ralph cảm thấy rõ rệt sự thay đổi chạy suốt thân mình. Khoảnh khắc của thay đổi này có sức nặng gần như những khoảnh khắc khai sáng trong truyện ngắn của Sherwood Anderson, người mà Carver ngưỡng mộ.  

VL

Thursday, November 7, 2013

Chess Story (Kỳ Thủ) - Stefan Zweig


Chess Story là truyện vừa khá nổi tiếng của Stefan Zweig, nhà văn Áo gốc Do Thái. Chess Story còn được biết như Chess, hay The Royal Game trong tiếng Anh. Cuốn này là tác phẩm cuối cùng của Zweig trước khi ông và vợ tự tử.

Truyện tả 2 nhân vật đều có tài đánh cờ xuất chúng. Một bên là vị vô địch cờ vua thế giới, một kẻ quái lạ, tâm trí phát triển không toàn vẹn, cung cách bần nông, nhưng lại có khả năng đánh cờ thiên phú. Một bên là người trí thức, luật sư, nhờ hoàn cảnh ngặt nghèo, thêm vào khả năng trí tuệ sắc sảo, đã luyện tập được trình độ cờ cao siêu. Có vẻ như vị vô địch cờ vua bần nông xuất hiện lúc đầu chỉ để làm nền cho câu chuyện của người đánh cờ trí thức, một câu chuyện gân guốc, rất "intense". Ở đó, con người đối mặt với sự cô độc khủng khiếp và để tồn tại họ phải đẩy tâm trí đến những giới hạn cuối cùng. Tại những giới hạn đó, con người nhận ra kẻ duy nhất để họ đánh bại, không sớm thì muộn, vẫn là chính mình.

VL

Thursday, October 24, 2013

Winesburg, Ohio - Sherwood Anderson



Winesburg, Ohio có thể xem như một tập truyện ngắn với 21 câu chuyện về những mảnh đời khác nhau trong một thị trấn vùng Midwest nước Mỹ. Cuốn sách như một bức tranh miền quê, tiềm tàng dưới màu sắc hiu quạnh là một sức bộc phát mạnh mẽ, một nét đẹp được cho là mang hơi hướng nghệ thuật Biểu Hiện (Expressionist art). Tuy nhiên, nét đẹp ẩn giấu này thực sự khó tiếp cận với cách viết không cần cốt truyện của Sherwood Anderson.

Trong câu chuyện mở đầu, người kể cho ta biết không có một thực tế nhất định, thay vào đó có nhiều cách nhìn đời khác nhau, mà cách nhìn nào cũng hợp lệ. Nhưng con người chỉ muốn nhìn đời từ một điểm cố định. Cái nhìn lệch lạc về thế giới này làm biến dạng hình người, và làm mỗi người biến thành một grotesque, một nhân vật bị vẽ méo mó đi, kiểu như những hình vẽ trên hang đá thời tiền sử (chữ grotesque từ grotto là hang động). Winesburg, Ohio kể về những nhân vật như vậy.

Có quá nhiều nhân vật trong 21 câu chuyện của Winesburg; nhiều nhân vật được mô tả nhạt nhòa nên thật khó nhớ tên. Tuy nhiên, một số nhân vật được vẽ đúng như một grotesque với những méo mó, ẩn uất khá ấn tượng. Các câu chuyện của từng số phận đều tách biệt, chỉ liên hệ với nhau qua George Willard, một nhà báo trẻ chuyên đi nghe ngóng tin tức của thị trấn. Hầu như mọi người trong Winesburg đều tìm đến George Willard, hoặc George Willard tìm đến họ, để trút bầu tâm sự và phần lớn những cao trào, những bộc phát hay ho đều xuất phát từ đây.

Anderson cho biết mục đích viết của ông là đem lên bề mặt những chiều sâu bị ẩn giấu của suy nghĩ và cảm xúc trong từng nhân vật, những đại diện cho lớp người Mỹ thời đại của ông. Anderson cho rằng trong mỗi con người là một giếng sâu của suy tưởng mà trên đó đậy chặt một cái nắp sắt nặng nề. Nhiệm vụ của người nghệ sĩ là phá vỡ cái nắp đậy này để một sự giải phóng, vượt thoát xảy ra. Do đó, ông viết những truyện ngắn không cốt truyện, chủ yếu tập trung vào một khoảnh khắc dữ dội của cảm xúc. Những khoảnh khắc này, như một sự khai minh, một giây phút bùng thoát, phá vỡ bề mặt nhàm chán, là điểm đặc sắc của Winesburg: một phụ nữ chạy trần truồng trên cỏ trong mưa, một linh mục đấm vỡ cửa kính nhà thờ, một tiếng gào thét giải tỏa trong đêm tối, một cú đấm nổ đom đóm từ sự dồn nén, ẩn uất, v..v.. Những câu chuyện Winesburg làm nên sức mạnh từ những hình ảnh phóng đại, biến dạng mà qua đó một nhân vật được bộc lộ thấu suốt tâm can hoặc một tiếng thét của đau đớn, ẩn uất được nghe thấy. Theo một số người, "Expressionism" là từ thích hợp để nói về nghệ thuật của Anderson. Vì cũng như một số nghệ sĩ sân khấu và hội họa cùng thời, Anderson chọn cho mình cách diễn tả nghệ thuật bằng sự biểu hiện ra bên ngoài những tình cảm riêng tư nhưng dữ dội của cả người nghệ sĩ và nhân vật.

Một trong những chi tiết ngoại hình nhân vật làm nên đặc sắc của nghệ thuật Biểu Hiện trong Winesburg là đôi tay. "Hands" là tựa đề của câu chuyện đầu tiên, một bi kịch của người thầy giáo tiểu học, người luôn cố vươn ra, với đến và chạm vào người khác qua đôi bàn tay, nhưng mục đích lại bị hiểu lầm. Ở một chuyện khác, đôi tay của Wing Biddlebaum được miêu tả như đôi cánh chim bị cầm tù. Trong "Respectability", nhân vật Wash Williams trông như một con khỉ đột xấu xí, dơ bẩn, ngay cả tròng trắng mắt của hắn nhìn cũng dơ. Tuy nhiên, hắn lại chăm sóc kỹ đôi tay, bộ phận duy nhất trên người hắn lành lặn và nhạy cảm. Ở đây, đôi bàn tay bộc lộ nhu cầu sâu sắc của mỗi cá nhân để vươn ra, liên kết với chung quanh. Có lẽ không có hình ảnh nào ấn tượng hơn đôi tay của linh mục Curtis Hartman, người đã đấm vỡ cửa kính nhà thờ trong một phút giây bùng phát cảm xúc, khi thử thách giữa dục vọng cô đơn và sự bó buộc tôn giáo đẩy ông đến giới hạn. Đôi tay đẫm máu của linh mục và những đôi bàn tay khác của Winesburg đại diện cho nỗi thèm khát ngặt nghèo của những nhân vật trong nỗ lực vươn ra, kết nối với thế giới bên ngoài.

Tóm lại, Winesburg, Ohio có thể là một cuốn sách chán và tối tăm, nhưng vẫn có nhiều khoảnh khắc đáng giá. Trong thực tế, đây là một tác phẩm có ảnh hưởng trong văn chương Mỹ. John Updike cho rằng niềm say mê của Anderson trong việc theo đuổi những ẩn uất trong thị trấn miền quê Ohio đã mở ra những Michigan của Hemingway và Mississippi của Faulkner.

VL

Thursday, October 10, 2013

Metamorphosis (Hóa Thân) - Franz Kafka


Với tôi, lần đọc Nguyễn Huy Thiệp cách đây hơn 2 năm và Kafka cách đây không lâu là hai lần được khai sáng trong việc đọc văn chương với những ấn tượng nặng nề. Tác phẩm Kafka không nhiều nhưng toàn kiệt tác, trong số đó nổi bật nhất chắc hẳn là truyện Metamorphosis, hình như được dịch ra tiếng Việt là Hóa thân?


Trong những bản tiếng Anh mà tôi có thì bản dịch của anh em Willa và Edwin Muir có lẽ nổi tiếng nhất, vì chính họ đã dịch Kafka từ tiếng Đức sang tiếng Anh từ rất sớm. Bản dịch của hai anh em Muir đang được Vintage sử dụng và đây cũng là bản tôi đọc. Sau đó tôi có xem sơ qua những bản dịch khác thì thấy văn phong hầu như không thay đổi, ngoại trừ cách chọn từ ví dụ như “insect” thay bằng “vermin”, v..v.. Bài này sẽ nói về đoạn mở đầu ấn tượng của truyện và hai sự giống nhau của Hóa thân với những truyện khác trong quá khứ. Những điểm này được bàn đến trong các bài phê bình trong cuốn Norton hình trên.

Metamorphosis là một câu chuyện hóa thân với những chồng chéo nhân dạng và những hình ảnh ẩn dụ có nhiều cách hiểu. Suốt truyện từ mở đầu đến kết thúc không có bất cứ giải thích nào về việc tại sao Gregor lại biến thành côn trùng. Rõ ràng, điều này không quan trọng đối với Kafka, và hơi có màu sắc hư vô, siêu thực, rất Kafkasque. Đoạn đầu của Hóa thân là những trang viết thiên tài. Dòng nhận thức của nhân vật chính Gregor cuốn quắp nhận thức của độc giả trôi đi một cách quái đản và rất tự nhiên. Không rõ nguyên bản thế nào, nhưng Anh ngữ rõ ràng quá thích hợp để diễn văn Kafka với những mô phạm trong cấu trúc câu và sự chính xác của từ ngữ, từ đó toát lên vẻ chính thống/mỉa mai đặc trưng của giọng văn Kafka, mà ta có thể thấy rõ hơn trong In The Penal Colony.

Phần lớn sự mỉa mai và đặc sắc của truyện này nằm trong phân cảnh Gregor nỗ lực tìm cách ra khỏi giường. Hình hài côn trùng quái đản của mình làm anh ta thật khó xoay trở. Nhưng dòng suy tưởng của Gregor chỉ hướng đến công việc và nỗi lo lắng lớn nhất của Gregor là với hình dạng mới sẽ làm anh ta trễ chuyến tàu đến sở làm. Dòng nhận thức của Gregor quá tỉnh bơ và phi lý. Chẳng lẽ sự hóa thân từ người thành bọ chưa đủ kinh khủng, chấn động để đầu óc tập trung vào đó? Chi tiết này làm người đọc mất thoải mái và phải tư duy. Hình ảnh người/bọ này được giới khoa bảng mổ xẻ phức tạp với những giả thiết về nhân dạng kép; hay hình ảnh này được xem như một cuộc hóa thân chưa hoàn toàn với tâm trí và thể xác vẫn còn thuộc về hai bản thể tách biệt của người và bọ (cuộc hóa thân tiếp tục theo thời gian khi Gregor dần quên đi tính người và hoàn tất ở cuối truyện).

Lời giải thích cho sự phi lý trong suy nghĩ của Gregor lúc vừa tỉnh dậy chỉ có thể từ lối sống công nghiệp máy móc. Kể từ cuộc cách mạng công nghiệp ở phương Tây, lối sống căng thẳng đã biến đổi một số người. Họ bị huấn luyện để nỗi sợ bị mất việc lấn át những nhu cầu bản thân. Thiếu tôn trọng bởi người chủ, họ trở thành những cái máy, những thân phận bị ruồng rẫy, những kẻ ngoại cuộc. Ở đây, Gregor trở nên một cỗ máy tự động, chạy theo quán tính đến nỗi anh ta không thể thấy được ngay cả sự hóa thân của mình. Rõ ràng đây là một quá trình giải nhân, phá vỡ con người.


Khá thú vị là hình ảnh hóa thân trong Metamorphosis có thể làm liên tưởng đến một truyện sớm hơn của Kafka là Wedding Preparations in the Country. Trong truyện này nhân vật Eduard Raban tưởng tượng anh ta phân thân ra làm hai bản thể khác nhau: một con bọ khổng lồ trùm chăn nằm nhà còn lớp vỏ con người đi về miền quê để làm đám cưới. Cái lạ ở đây là bản thể của Raban dưới dạng con bọ đem đến cảm giác bảo vệ, ấm áp chứ không hề gớm ghiếc. Raban cảm thấy là chính mình dưới lớp vỏ cứng, trần trụi, nhưng thỏa mãn, còn lớp vỏ con người như một bộ cánh rỗng ruột, không ý nghĩa, vô dụng, thay mặt anh ta hòa vào dòng chạy đông đúc của những bộ cánh khác để thực hiện những giao tiếp xã hội. Có thể, Metamorphosis đang biến giấc mơ của Raban (hoặc Kafka) thành hiện thực.


Một phân tích lạ khác cũng liên quan đến giấc mơ thú vật này là hình ảnh người đàn bà khoác lông thú được lồng vào khung tranh treo trang trọng trong phòng Gregor. Nhiều nghiên cứu chỉ ra sự trùng hợp giữa hình ảnh người phụ nữ lông thú, cũng như một phần cốt truyện Hóa thân, với tác phẩm Venus in Furs (1870) của Sacher-Masoch. Điểm mấu chốt ở đây là sự giống nhau giữa hình ảnh lông thú trong hai tác phẩm. Lông thú ở đây là ẩn dụ cho sự thèm khát giới tính, có thể hiểu theo Freud khi lông thú gợi cho bái vật (fetish) nhớ đến bộ phận sinh dục người mẹ và chùm lông. Do đó, Gregor có thể chất chứa một thèm khát tình ái nam nữ qua việc nâng niu, cắt và đóng khung bức hình người phụ nữ khoác lông thú. Khung hình này thể hiện sự ngăn cách nỗi thèm khát của Gregor với giấc mơ nam nữ, vì ta được biết trong truyện rằng anh vẫn còn độc thân. Hơn nữa, việc đóng khung bức hình như là nâng hình ảnh người đàn bà lên tầm của một thứ nghệ thuật mà Gregor không thể thực sự với tới. Trong đoạn mẹ và em gái Gregor dọn phòng và đem đồ đạc của anh ta đi, Gregor gấp gáp chọn một thứ đồ để bảo vệ, và bản năng khiến anh chọn bức hình đóng khung. Gregor, dưới hình dạng một con bọ/gián khổng lồ, dán mình lên mặt kiếng của khung hình để ngăn người ta đem nó đi. Ở đây, tiếp xúc thân xác với nghệ thuật khiến Gregor thỏa mãn khoái cảm, khi mặt bụng nóng hổi của thân xác bọ dán lên mặt kiếng mát lạnh của khung hình người đàn bà lông thú. Chính cái lớp kiếng ngăn cách Gregor với hình ảnh nghệ thuật, với thèm khát nam nữ, lại chính là nguồn khoái cảm. Điều này có thể làm người đọc liên tưởng đến những kỳ quái trong cuộc đời Kafka, khi ông có vẻ luôn cố tình tạo ra những hoàn cảnh khó khăn để phục vụ cho cảm hứng văn chương của mình. Những ví dụ khá rõ là quan hệ cha con và quan hệ nam nữ (những lèng èng với Felice, vị hôn thê năm lần bảy lượt) của Kafka.

VL