Friday, February 1, 2013

Chết ở Venice - Thomas Mann



Thomas Mann, đương nhiên là một cái tên khá mời gọi. Nhưng tủ sách Cánh Cửa Mở Rộng sao không chọn cuốn Magic Moutain/Ngọn Núi Phù Thủy, cuốn sách nổi tiếng nhất của Thomas Mann? Không rõ đã có người dịch và in chưa..

Đây là một cuốn sách đọc được. Có lẽ đề tài đồng tính nam vào những năm trước Thế chiến thứ Nhất còn là một vấn đề nhạy cảm, nên Chết ở Venice đã trở thành một hiện tượng vào lúc đó. Thật ra, mình thích nhất chương 1 và 2, nơi Thomas Mann lan man về những suy tư văn chương, triết lý, có lẽ được mang thẳng từ ngoài đời vào tác phẩm. Đoạn giữa và câu chuyện không có gì đặc biệt. Nhân vật chính, nhà văn Aschenbach đi du lịch đến Venice và bị tiếng sét ái tình từ một cậu bé thiếu niên đẹp mê hồn đánh gục. Từ đây bắt đầu những ám ảnh, những cuộc đeo đuổi và tự dằn vặt của người đàn ông khả kính ấy. Đoạn gần cuối, từ khi nhân vật khám phá ra sự thật về dịch bệnh ở Venice được tả thật hay. Cơn ác mộng của ông diễn ra trong khi những giác quan khác vẫn còn thức tỉnh, làn ranh giữa ý thức và vô thức mập mờ với những hình ảnh nhảy múa náo loạn của dục vọng. Một cảm giác kinh tởm. Ông không biết mình phải làm gì tiếp theo. Người đọc cảm giác được sự sống của ông đang chao đảo trên một ranh giới. Một bên là bản năng, là tình yêu mãnh liệt, còn một bên là ý thức về dịch bệnh, là sự sống. Nhưng cũng thật khó nói chính xác ông đang nghĩ gì lúc ấy. Chỉ biết đó là lúc tâm hồn người nghệ sĩ đạt được tột cùng của cảm xúc, khi tình yêu và sự sống cùng lúc bị dồn ép đến cuối đường, vào ngõ cụt, đến bên bờ vực thẳm. Có thể ta mù mờ không rõ ông bị nhiễm bệnh khi nào, nhưng điều đó có quan trọng không khi cái chết của nhân vật ở cuối truyện là một sự dấn thân đẹp đẽ, là tác phẩm hay nhất mà người nghệ sĩ ấy để lại cho đời.

Có thể nói người dịch của cuốn này Nguyễn Hồng Vân đã Việt hóa rất tốt. Hầu như mình khó nhận ra dấu vết của việc dịch: giọng văn trau chuốt, suôn sẻ, đọc không vấp váp chỗ nào. Đây đáng lẽ là một điều tốt. Nhưng có lẽ vì quá suôn, quá mượt, câu lại dài nên câu chữ của Thomas Mann cứ trôi tuồn tuột đi một cách không hối tiếc.


Việt Lê

Thursday, January 31, 2013

Grand Theft Auto IV: Giấc mơ Mỹ và hai lựa chọn

Mục đích của blog này của mình là viết xuống về những sách, trò chơi điện tử đã đọc và hoàn tất như một sự tự ghi nhận hay là "tự sướng". Nhưng riêng về game thì càng ngày mình càng thấy ngôn từ bất lực. Hiện nay game review đều bằng video clip, "a picture is worth a thousand words". Thật khó để viết về một số game khi cái đặc biệt của nó nhiều khi chỉ là phần đồ họa hay âm nhạc, còn cách chơi thì lặp lại. Vì vậy nên cho dù trong mấy năm qua mình chơi rất nhiều game và phá băng được một vài, cũng không muốn viết xuống. Nhưng Grand Theft Auto (GTA) IV là một game đặc biệt và nó đã là cảm hứng cho rất nhiều nhà phê bình viết bài, khi ra đời vài năm về trước. Trong số những review tôi tìm được trên mạng, thật thú vị khi có cả bài của Junot Diaz, tác giả cuốn The Brief Wondrous Life of Oscar Wao, đoạt giải Pulitzer năm 2008. Nói chung, GTA IV là game không mới, đã được phá băng từ năm 2011, nhưng giờ đây khi GTA V đang ngấp nghé ra đời thì bài này mới được cố gắng viết xuống. Các bạn ngoại đạo nếu có hứng thú đọc đến đây và muốn đọc tiếp về cái "Giấc mơ Mỹ và hai lựa chọn" thì nên bỏ 2 đoạn tiếp theo.



Có lẽ không gamer nào, cả máy tính PC và máy điện tử Console, là không quen thuộc với loạt game Grand Theft Auto của Rockstar. Từ phiên bản thứ 3 của mình, GTA đánh dấu một bước ngoặt to lớn bằng việc chuyển sang thể loại sandbox. Sandbox là thế giới mở, người chơi có thể tự do hành động và di chuyển trong một thế giới mở rộng lớn thay vì chỉ giới hạn hoạt động trong một phạm vi nhất định, tùy theo phân cảnh game. Tên tuổi GTA lên như diều từ đó.

Cũng như phiên bản trước, GTA IV dùng bạo lực làm phông chủ đạo của game. Nhân vật có thể cướp xe của người đi đường (tính năng đặc biệt làm nên tên tuổi Grand Theft Auto), đánh người, bắn giết dân thường và cảnh sát trong lúc làm nhiệm vụ. Nhiệm vụ trong game là những mission nối tiếp mission dựa trên một kịch bản đặc sắc. Kịch bản này đưa người chơi lần lượt làm quen với một mạng lưới các nhân vật với những tính cách đặc trưng của giới giang hồ, từ đó leo từng nấc thang của thế giới ngầm và tiến về cái kết của câu chuyện. Bạo lực, những chiếc xe bóng lộn, thế giới ngầm, đồ họa sáng sủa, mượt mà, những màn rượt đuổi đường phố không khoan nhượng trên nền soundtrack phong phú với quy mô chưa từng thấy ở bất cứ game nào khác đã góp phần tạo nên một không khí rất GTA độc nhất vô nhị. Chỉ với những điều đó, GTA IV đã đủ để trở thành game hay nhất trong 5 năm trở lại đây.

Nhưng GTA IV còn có một cốt chuyện hấp dẫn, sâu sắc mà nhiều người điểm game đã vội miệng so sánh với cả phim Bố Già và show truyền hình Sopranos nổi tiếng. Bối cảnh game là Liberty City, thành phố lấy gần như nguyên mẫu từ New York. Niko Bellic, người dẫn chuyện, nhân vật chính của game, rời tàu chở hàng vừa cập bến cảng Liberty City với niềm tin ngây thơ của bất cứ người di dân nào vừa đến Mỹ: đây là mảnh đất của cơ hội, xứ sở của tự do với những biệt thự mansion, du thuyền, siêu xe, làm tình tay ba, v..v.. Tuy nhiên, Niko đã sớm chưng hửng khi nhận ra người đã "quảng bá" cho cái giấc mơ Mỹ ấy, anh họ của Niko là Roman, thực ra đang sống trong một khu ổ chuột với công việc cà quèn, nợ nần ngập đầu.

Khác với nhân vật chính của GTA trước, Niko trong game không phải là người sùng bái bạo lực, tuy hắn có quá khứ của một sát thủ, cựu quân nhân chiến trường Nam Tư, từng làm việc trong các tổ chức buôn người ở Địa Trung Hải. Niko đã từ bỏ cuộc sống tội lỗi để đến Mỹ với hy vọng làm lại cuộc đời. Tuy vậy, sau khi ra tay giúp đỡ Roman thoát khỏi chủ nợ, Niko nhanh chóng bị cuốn vào ân oán của thế giới ngầm Liberty City. Với những kỹ năng được đào luyện qua năm tháng giang hồ ở Đông Âu, Niko không khó để dần trở thành một tay gangster có số má trong môi trường mới. Tiền bạc, xe cộ, căn hộ cũng theo đó cập bến. Niko Bellic, một di dân ngày nào với hai bàn tay trắng, muốn rũ bỏ quá khứ và giết chóc để hoàn lương, sống một cuộc sống đơn giản, lương thiện bên cô bạn gái mới quen trên đất Mỹ, đã càng ngày càng lún sâu, vô tình hai bàn tay vấy máu một lần nữa. Trong lúc dấn thân vào các ân oán, đụng độ hết nhân vật này đến băng đảng khác, từ đủ các sắc dân khác nhau, Niko tình cờ gặp lại người bạn thuở thiếu thời trong nhóm đặc nhiệm ở Serbia là Bernie. Bernie nay đã ổn định ở miền đất hứa, với nhiều thay đổi trong cuộc sống lẫn trên cơ thể, và rất hạnh phúc. Có thể nói, Bernie là giấc mơ Mỹ đã trở thành sự thật. Tiếp theo, Niko biết được Bernie không phải là kẻ thù hắn cần tìm, mà kẻ phản bội đã ám ảnh hắn bấy lâu nay đang có mặt ở Liberty City. Ngày trả thù sắp đến, kết thúc đã gần kề. Lúc này, Niko bỗng thấy mình đứng giữa hai lựa chọn, hai ngã rẽ cuộc đời, giữa Cũ và Mới.

Cái Cũ là giết chóc, là danh dự, là tinh thần anh chị giang hồ, là có thù thì phải trả. Cái Mới là luật lệ, là trò chơi Tư Bản, là tiền và lợi ích. Cái Cũ là cảm tính, là lún sâu còn cái Mới là lý trí, là vượt thoát. Cuối cùng, nếu Niko chọn trả thù, tức là chọn cái Cũ, éo le thay, người bạn đời tương lai là cô gái Kate McReary sẽ bị bắn chết ở đám cưới của Roman. Nếu Niko chọn cái Mới thay vì trả thù, với số tiền lớn để gia nhập cuộc sống Tư Bản, thì anh họ Roman của hắn sẽ là người bỏ mạng. Đây là những alternate ending đau đớn, khi chính Kate là tương lai, là cuộc sống mới của Niko nếu hắn chọn cái Cũ còn Roman là mắt xích duy nhất giữa Niko với quá khứ, quê nhà nếu hắn chọn cái Mới. Cũng không tình cờ khi người viết kịch bản sắp xếp cho Kate là người đẩy Niko đến lựa chọn trả thù, còn Roman lại chính là kẻ khuyên Niko từ bỏ thế giới cũ và tha thứ. Cả hai lời khuyên này đều dẫn đến cái chết của chính họ. GTA IV đặt Niko Bellic vào một lựa chọn không khoan nhượng giữa quá khứ và tương lai, không hề có cách giải quyết trung dung.

Cuối game, đứng bên xác kẻ thù cuối cùng, Niko nghe văng vẳng câu nói của ai đó "You've won". Đúng là như thế khi thử thách tiếp nối thử thách đã kết thúc, câu chuyện cũng chấm dứt ở đây, nhưng đối với Niko có lẽ câu nói ấy chưa bao giờ nghe trống rỗng hơn lúc này. Khi danh sách credit (như bất cứ lúc nào bạn phá băng) đã lên hết, bạn sẽ nghe Niko nói "So this is what the dream is like. This is the victory we longed for." Đối với Niko, giấc mơ Mỹ trở thành sự thật nhưng đi kèm với cái giá quá đắt.


P.S.: Khi nói về game, có lẽ không văn vẻ nào có thể mô tả hết cái hay của một loại hình giải trí chủ yếu bằng hình ảnh và âm thanh như thế. Nên tốt nhất là nên đi kèm với một clip tiêu biểu để giới thiệu thế giới của GTA IV với những người chưa chơi hoặc ngoại đạo:


Ngoài ra, chơi GTA IV, không thể nào bỏ qua phần sitcom, thường được chiếu trên TV trong game, hoặc phát trên các làn sóng radio khi lái xe. Những hài kịch này có sự góp mặt của nhiều nghệ sĩ hài có tiếng của Mỹ, từ nhiều show nổi tiếng như Saturday Night Live. Không có gì ngoa khi có người nói muốn hiểu nhanh nhất về nước Mỹ thì nên xem TV Mỹ. Clip sau trích từ một show trong game có thể là tiêu biểu cho một thứ hài kịch vô thưởng vô phạt kiểu Mỹ, thông thường người ta có thể xem được trên kênh Adult Swim vào đêm khuya.



Việt Lê

Friday, December 14, 2012

Anna Karenina - Lionel Trilling (tiểu luận phê bình)


Một tiểu luận của Lionel Trilling, cây bút phê bình văn học xã hội nổi tiếng của Mỹ những năm hậu chiến. Chọn đại bài ngắn nhất dịch thử. Trình độ còn non mong bà con nào vô tình đọc được cũng đừng ném đá cục nha.



Anna Karenina 
~ Lionel Trilling


Khi Anna Karenina lần đầu ra mắt, cuốn sách được đọc với sự hứng khởi đặc biệt trong đó thành tố chính là một nỗi niềm hân hoan trẻ thơ khi nhận thấy trong nghệ thuật những điều tương tự trong đời thực. Điểm này, người ta nói, là cái cách mọi việc như thế, cái cách chúng thật sự là như thế, cái cách ta trước nay vẫn biết chúng như thế, và chưa có ngòi bút nào trình bày như thế trước đây. Cảm giác chung về cuốn sách được Matthew Arnold diễn tả trong tiểu luận về Tolstoi rằng Anna Karenina không chỉ nên được xem như một tác phẩm nghệ thuật mà đúng ra là một phần của cuộc sống. Trong chừng mực nào đó, tất nhiên, nhận xét của Arnold hoàn toàn không xác đáng – nghệ thuật là nghệ thuật và cuộc sống là cuộc sống; chúng ta đọc tiểu thuyết và sống cuộc sống; và nếu ta cố diễn tả nguồn cơn phản ứng của chúng ta về những tiểu thuyết nhất định bằng cách nói rằng ta “sống” chúng, thì đó chỉ là một thái độ phát biểu. Nhưng đó là một thái độ phát biểu cần thiết để giới thiệu tính cách của nghệ thuật Tolstoi.


Phản ứng đầu tiên về Anna Karenina, như tôi đã bàn, chứa đựng một sự ngây thơ nhất định. Như thể rằng từ đó về trước người ta chỉ được biết đến một nghệ thuật chỉn chu và được thừa nhận, rồi giờ đây được đối diện một văn bản thực sự nguyên thủy, cứ như họ chưa bao giờ có cơ hội cảm nhận một trạng thái sự thật (verisimilitude). Nhưng đương nhiên nó không phải toàn bộ như thế. Tolstoi không sáng tạo ra một thể loại mới gì cả. Khi Anna Karenina xuất bản – theo tập từ 1875 đến 1877 và toàn tập năm 1878 – cuốn tiểu thuyết như là một bản thể nghệ thuật đã vươn đến một đỉnh cao trong quá trình phát triển của nó và đã tung ra nhiều cuộc xâm chiếm lớn lao lên phần của cuộc sống mà cuốn sách đã nói đến một cách trác tuyệt, phần của cuộc sống chúng ta gọi là hiện thực (actual). Chỉ bàn đến những tiểu thuyết gia Pháp, đất nước mà lý thuyết hiện thực đã được xây dựng một cách ý thức hơn bất cứ nơi nào khác, Balzac đã hoàn tất nhóm tác phẩm vĩ đại về lịch sử xã hội Pháp gần ba thập kỷ trước, Flaubert đã xuất bản cả Madame BovaryL’Éducation sentimentale, và Zola đang ở thời sung sức nhất của hoạt động sáng tác. Với tất cả những tác gia hiện thực trên đã chiếm hữu sân khấu – đó là chưa nói đến tác phẩm của chính ông Chiến Tranh và Hòa Bình, mà mặc dù trong thế kỷ 19 chưa có được danh tiếng như hiện nay, vẫn được khá coi trọng vào lúc đó – Tolstoi vẫn tạo ra được cái hiệu ứng với Anna Karenina như tôi đã mô tả.

Và ông đang tiếp tục điều đó hôm nay. Trong thời của chúng tôi Proust và Joyce đã mở rộng sự thống trị của tiểu thuyết hiện thực; nền văn hóa tổng thể của chúng ta bị ám ảnh phải luôn gắn liền với thực tế; chúng ta đã tháo gỡ hầu như mọi cấm kỵ có lúc đã ngăn cản việc nắm bắt bản chất mọi sự trong thực tế và đã làm tiến hóa những khoa học về hành vi con người rất chắc ăn và chi tiết mà điều này có thể làm vui lòng Balzac hay Zola. Tuy nhiên, khi đọc Anna Karenina, chúng ta thốt lên bằng sự hân hoan ngây thơ và ngạc nhiên, tại sao lại là cái cách nó phải thế, chính nó là cuộc sống rồi! Và một nhà phê bình đương đại, Philip Rahv, nói với chúng ta hôm nay những gì Arnold đã nói với độc giả thế kỷ 19 của quyển sách. Về Tolstoi, ông Rahv nói, “sự tách biệt giữa nghệ thuật và cuộc sống có bản chất tối thiểu. Trong một tiểu thuyết Tolstoi nó không bao giờ là sự chia rẽ mà luôn là sự thống nhất giữa nghệ thuật và cuộc sống, điều này đã tạo ra sự khai minh… Người ta có thể nói trong cái lý nào đó không có cốt truyện trong Tolstoi nhưng đơn giản chỉ có một tiến trình không thay đổi được và không thắc mắc được của chính cuộc sống; tiến trình đó là sự trực tiếp đáng kinh ngạc mà với nó ông sở hữu những nhân vật ông có thể điều động với kỹ thuật đầy lôi cuốn, như khi ông điều động với những công cụ đỏm dáng: phóng đại, xuyên tạc và giả tạo.”

Tính sát sườn với cuộc sống, mà, trong số những nhà văn, ông sở hữu ở mức độ cao nhất, không làm Tolstoi trở thành nhà văn vĩ đại nhất. Cho dù vĩ đại, vẫn có những hiệu ứng phải đạt được bởi kỹ thuật lôi cuốn đầy tỉnh táo và khả năng làm biến dạng, bởi cốt truyện và thiết kế, bởi tình yêu lãng mạn, mà phương pháp tính cách của ông không thể kiểm soát được; có những thể loại khai minh và niềm vui sướng mà Tolstoi không thể đem đến cho chúng ta nhưng Dickens, Dostoevski, và James có thể. Nhưng nếu Tolstoi không phải người vĩ đại nhất trong những nhà văn – dạng so sánh cao nhất của tính từ ấy, trong bất cứ trường hợp nào, ngăn cản một cách ngu xuẩn phản hồi tự do của chúng ta về văn chương – ông có thể được xem là người trung tâm nhất. Chính ông đã đem đến cho tiểu thuyết tiêu chuẩn và khuôn thước, tiêu chuẩn và khuôn thước không phải của nghệ thuật mà của thực tế. Tác phẩm của ông được dùng làm chuẩn để ta đo độ xuyên tạc, phóng đại, và nói giảm mà những nhà văn khác dùng – dĩ nhiên là dùng một cách hợp lệ - để đạt được những hiệu ứng của họ.

Với độc giả của ông, chỉ một tác giả khác có vẻ sở hữu tính chất khuôn thước này – những gì chúng ta hôm nay cảm nhận được về Tolstoi đã được cảm nhận trong thế kỷ thứ mười tám một cách lạc quan hơn và công thức hơn về Homer. Đó chính là cảm nhận của Đức Giáo Hoàng khi ông nói rằng Tự Nhiên và Homer chính là một.

Một trong những cách ghi nhận tính chất khuôn thước, tiêu chuẩn của Homer là nói về tính khách quan của ông. Homer mang đến cho ta đối tượng, mà không nhét tính cách của ông vào giữa đối tượng đó và chúng ta. Ông đem lại một người hay một sự vật hoặc một sự kiện mà không phán xét nó, như Tự Nhiên chính nó đem đến cho ta. Và trong chừng mực nào đó, điều này đúng với Homer, thì nó cũng vậy với Tolstoi. Nhưng một lần nữa chúng ta đang xử lý một thái độ phát biểu. Homer và Tự Nhiên đương nhiên không là một, cũng như Tolstoi và Tự Nhiên không như nhau. Thật vậy, cái được gọi là tính khách quan của Homer hoặc của Tolstoi không phải là tính khách quan gì cả. Hoàn toàn đối nghịch, đó là sự chủ quan hào phóng và hoang tàn nhất có thể, vì mọi đối tượng trong Trường ca Iliad hoặc Anna Karenina tồn tại qua một phương tiện mà ta phải gọi là tình yêu của tác giả. Nhưng tình yêu này quá lan tỏa, quá bất biến, và quá công bằng, nó tạo ra một ảo giác của sự khách quan, bởi vì mọi sự trong câu chuyện, không có ngoại lệ, tồn tại trong đó như mọi sự trong Tự Nhiên, không có ngoại lệ, tồn tại trong thời gian, không gian, và không khí.

Để nhận thức đặc tính khách quan của Tolstoi, người ta chỉ phải so sánh với tính khách quan của Flaubert. Hiểu trên phê bình lý luận, Flaubert được ghi nhận khách quan gần như là Tolstoi. Tuy nhiên rõ ràng là tính khách quan của Flaubert chứa sự khó chịu và Tolstoi thì chứa tình thương (affection). Với Tolstoi, mọi người và mọi vật đều sở hữu một ưu điểm cứu vãn (saving grace). Cũng như Homer, ông hiếm khi cho phép ta lựa chọn giữa hai đối nghịch – như việc chúng ta không dám đặt lòng thông cảm cho Hector hoặc cho Achilles, cũng như trong trường đoạn vĩ đại ấy, không dám ủng hộ ai giữa Achilles hoặc Priam, nên ta không thể nói, giữa Anna và Alexei Karenin, hoặc giữa Anna và Vronsky, ai đúng và ai sai.

Hơn bất cứ gì khác, và đương nhiên đi trước những kỹ năng văn chương cụ thể mà chúng ta cô lập, chính là cái phẩm chất luân lý này, phẩm chất tình thương, đã giải thích cho ảo tưởng về thực tế rất độc đáo mà Tolstoi tạo ra. Chính khi người viết thật sự yêu nhân vật của ông, ta mới có thể thấy những nhân vật ấy được diễn tả trong sự toàn vẹn và mâu thuẫn, trong thất bại cũng như trong những thời khắc huy hoàng, trong sự tầm thường cũng như trong vẻ quyến rũ của họ. Hãy xem tiểu thuyết gia nào khác Tolstoi, có bao giờ không làm giảm đi tình yêu gần như đầy nhục dục đối với nữ anh hùng của ông ta, có thể làm ta tin vào nữ anh hùng đó, như là ta tin vào Anna, đến nỗi cô ta trở thành một phụ nữ khó khăn, hầu như bất khả? Hoặc tiểu thuyết gia nào khác có thể kể, như Tolstoi kể ta nghe về Vronsky, rằng người hùng lãng mạn của ông ta đang càng ngày càng hói nhưng cũng đồng thời không dùng chi tiết đó để hạ thấp anh ta? Cái mà chúng tôi gọi là tính khách quan của Tolstoi chỉ đơn giản là sức mạnh của tình yêu để không phải cam chịu sự giảm bớt từ một sự thật là cuộc sống thường không được lý tưởng như mong ước. 

Chính là chiến thắng đầy khôn khéo của nghệ thuật Tolstoi đã khiến ta ủng hộ một cách nhiệt thành cho cách tượng trưng mọi sự như chính chúng như thế của nghệ thuật đó. Chúng ta rất vui vẻ đưa ra sự thừa nhận cho những gì Tolstoi tượng trưng và rất sẵn lòng gọi đó là thực tế vì ta sẽ nhận vào từ việc gọi đó là thực tế. Bởi vì đó là niềm hy vọng của từng con người đoan chính, trung thực để được phán xét dưới phương diện cách trình bày bản chất con người của Tolstoi. Có lẽ, những gì Tolstoi đã làm là tạo ra, như thực tế, sự phán quyết hay bản án mà mỗi con người đoan chính, trung thực (một cách hợp lý) thường thường sẽ đưa ra cho bản thân họ - như là một người không hoàn toàn tốt và không hoàn toàn xấu, không anh hùng tuy nhiên cũng không thiếu anh hùng chủ nghĩa, không lộng lẫy nhưng cũng không thiếu những thời khắc sáng sủa, không để bị hiểu bởi bất cứ công thức nào tuy nhiên vẫn có nguyên tắc sống riêng, và thu xếp cách nào đó, bất chấp những quan niệm lễ giáo, để luôn giữ được phẩm giá. 

Đó đương nhiên là một cách khác để nói hiện thực của Tolstoi hoàn toàn không khách quan chút nào, rằng đó chính là sản phẩm của ý chí và ước ao của ông (và của chúng ta). Khi chúng ta nói như vậy, chúng ta phải nói thêm – ta phải làm thế để đạt được cái hiện thực cụ thể mà trong đó Tolstoi bỏ sót chi tiết những hiện thực khác sở hữu. Đáng kể nhất, ông đã bỏ sót cái xấu (evil), chi tiết trung tâm trong cái nhìn của tác gia vĩ đại cùng thời Dostoevski. Tolstoi, để chắc chắn, không phải là không nhận thấy được những đau khổ của con người. Levin, là tượng trưng cho bản thân Tolstoi trong Anna Karenina, bị rơi vào một cuộc khủng hoảng tinh thần với ý nghĩ “đối với mọi người, bản thân anh ta nữa, không có gì khác ngoài khổ đau, cái chết và lãng quên,” rồi anh ta bị đẩy đến mức tin rằng anh “hoặc là phải diễn tả cuộc sống bằng cách khiến cuộc sống không giống như một trò đùa xấu xa của quỷ sứ, hoặc là tự bắn bỏ cho rồi.” Về hình thức, đây cũng chính là ý nghĩ luôn dằn vặt Ivan Karamazov. Nhưng nó có khác biệt về giọng văn, và khác về cường độ. Cảm giác tiêu cực của Levin, tuy đau đớn, nhưng mơ hồ và có thể man mác buồn; nó hoàn toàn không có sự rùng rợn và ghê tởm như cảm giác nơi Ivan. Và Levin có thể giải quyết khủng hoảng của mình một cách khá dễ dàng, vì anh ta sở hữu những chất liệu ôn hòa trong tầm tay mà Ivan không có và có thể sẽ không chấp nhận – lòng thành kính, công việc, truyền thống, và sự liền mạch trong gia đình.

Ngày nay, cảm thức xấu xa dễ dàng tiếp cận chúng ta. Ta đều đồng ý với cái mà Henry James gọi là “sức tưởng tượng tai họa” (imagination of disaster), và với đủ tỉnh táo, với thực trạng của thế giới hôm nay. Cũng với đủ tỉnh táo mà chúng ta rung cảm nhất với những tác giả, những người có tưởng tượng tai họa phát triển cao, ngay cả phát triển cực cao. Với nhiều người chúng ta thế giới hôm nay có vẻ ngoài và cảm giác của một cuốn tiểu thuyết Dostoevski, mỗi thời khắc của nó là khủng hoảng, mỗi chi tiết của nó đều ném ra sự đa cảm trầm trọng và ý chí thương tật, mù lòa. Có thể hiểu rằng, khi bùa phép của Tolstoi chưa phủ xuống chúng ta ngay, ta có thể thấy như rằng ông đem đến cho ta không phải thực tế mà chỉ là một phần của thực tế mà thôi.

Không nghi ngờ rằng sức tưởng tượng tai họa không thực sự mạnh nơi Tolstoi.[1] Nhưng có thể chính ở đây ẩn chứa giá trị khác thường của ông đối với chúng ta. Vì sức tưởng tượng tai họa là một chức năng đầy can đảm và quả quyết của lý trí nhưng nó đồng thời cũng độc đoán và hay ganh tị - nó không dễ dàng gì cho phép những quan niệm khác đi bên cạnh; nó sẵn sàng sinh ra cái xấu hơn là sinh ra một thứ mà cái xấu có thể xảy đến với thứ đó; hoặc, nếu nó sinh ra một sự vật có thể bị tổn hại, nó thường có khuynh hướng làm thế bằng một cách trừu tượng. Thị hiếu văn học của chúng ta đã trỗi dậy từ quan niệm này, là một thị hiếu tự nhiên, tuy nhiên nó chứa cái nguy hiểm làm ta có thể đi đến giả định rằng cái xấu xa lại tương đương với thực tế. Ta còn có thể, bằng một cách xa xôi và vô thức nào đó, đi đến tôn vinh cho cái xấu như thể là thực tế. Hoặc có thể xảy ra rằng sự lo sợ của chúng ta về cái xấu xa sẽ đưa ta đến chỗ đánh mất nhận biết của ta, hoặc ít nhất cũng mất đi sự khẳng định văn học của nhận thức chúng ta, về thế nào là cái tốt đẹp của cuộc sống. Sức sáng tạo văn học kể từ thời Tolstoi rực rỡ phi thường và xác đáng tuyệt diệu, tuy nhiên có một sự thật phũ phàng rằng, mặc dù nhiều cây bút đủ sức viết về đau khổ của cuộc sống, hầu như không ai có thể kể về sự đau khổ dưới dạng niềm vui tiềm ẩn của cuộc sống, và mặc dù nhiều người đã miêu tả được sự suy nhược và biến dạng của quan hệ con người, hiếm ai có thể diễn tả được sự bình thường của quan hệ con người là thật như thế nào. Nhưng trong Tolstoi, gia đình là một thực thể; quan hệ cha mẹ với con là một tình trạng thật chứ không phải mang tính biểu tượng; tình thương thực sự hiện hữu và có thể được nói đến nếu thích mà không hề xấu hổ; tình cảm lên rồi xuống, nhẹ nhàng hoặc giận dỗi, nhưng nó luôn là cái gì đó cao hơn một phép ẩn dụ; sự liền mạch sinh học là sự thật, không phải giống như sự quả quyết sơ sài một cách cảm động của James Joyce, mà là một cách giản đơn và không thể trốn thoát. Ta có thể nói, với sức tưởng tượng tai họa rất thấp đó, Tolstoi đã phục vụ chúng ta, vì ông nhắc nhở ta về cuộc sống trong cái thực tế thông thường của nó là như thế nào.    

Tôi đã nói rằng tầm nhìn luân lý của Tolstoi hầu như là tác nhân cho niềm vui sướng của chúng ta khi phản ứng về Anna Karenina. Đó là lý do tại sao phê bình, cụ thể là phê bình văn học, nên bó tay chịu trói (lay down its arms) trước cuốn tiểu thuyết này. Chúng ta sống trong một thời mà phê bình văn học đã và đang đưa ra nhiều tuyên bố quả quyết mà chắc hẳn không hoàn toàn phi lý. Nhưng phê bình đặc trưng của thời đại chúng ta là phân tích tâm lý học của ngôn ngữ. Đây là một kỹ thuật cực kỳ hữu dụng, nhưng có những khoảnh khắc văn chương không hề muốn tiết lộ bí mật quyền lực của chúng cho bất kỳ nghiên cứu về ngôn ngữ nào, bởi vì quyền lực văn học không phụ thuộc vào ngôn ngữ mà là dựa vào quan niệm luân lý. Khi ta đọc Hector trong phút giã từ Andromache đã bế con trai nhỏ lên nhưng đứa bé kinh sợ trước cái bờm ngựa nơi mũ chiến của người cha, Hector tháo mũ ra và cười to rồi đặt mũ xuống đất như thế nào, hoặc Priam lẻn đến tận lều của Achilles cầu xin để mang xác con trai về, và rồi người đàn ông già và chàng trai trẻ, cả hai đều đang chịu tang và đau buồn về mất mát của người thân, nói chuyện với nhau về cái chết và số phận ra sao, không gì có thể giải thích được quyền lực của những thời khắc đó lên chúng ta. Và ngay cả khi sóng cảm xúc ta dâng trào bởi nhận thức của ta về một sự thích hợp đến hoàn hảo của từ ngữ được sử dụng – “Không duyên cớ. Không duyên cớ” (No cause. No cause) của Cordelia (King Lear); hoặc của Ophelia “Tôi là người bị lừa dối nhiều hơn”; hoặc của Hamlet “Còn lại đều im lặng” -  ta vẫn không thể xử lý ngôn ngữ bằng cách phân tích, vì không phải ngôn ngữ có vẻ thuyết phục về tâm lý học mà chỉ là đúng đắn một cách luân lý; ta cảm thấy chính xác bằng cách này mà con người trong tình huống ấy nên nói, và chỉ toàn bộ cảm thức cuộc sống của chúng ta mới có thể giải thích sự trân trọng của ta với việc từ ngữ được dùng là những từ này thay vì những từ khác.

Tóm lại, có những lúc mà người phê bình văn học không thể làm gì khác hơn là chỉ ra, và Anna Karenina đem đến cho anh ta một lúc như thế khi chức năng phê bình của anh ta bị thu hẹp lại và trở nên cái hành động mang tính sơ khai đó: chỉ ra. Chỉ ra tại sao tiểu thuyết này hay? Chỉ có ngón tay của sự ngưỡng mộ mới có thể trả lời: bởi vì khoảnh khắc này, hoặc thời điểm kia, hầu hết là những khoảnh khắc lặng yên, tầm thường, mang tính tình huống. Bởi vì một chi tiết quan sát nhân vật: “Hoàng tử Kuzovlev ngồi đó mặt trắng bệch trên con ngựa thuần chủng từ giống ngựa nòi Grabovsky, trong khi gã thân bộc người Anh dìu cương nó. Vronsky và những đồng chí đã biết về Kuzovlev và tình trạng đặc biệt yếu thần kinh cũng như sự vô dụng đến tệ hại của chàng ta. Họ biết chàng sợ hết thảy mọi việc, sợ khi cưỡi một con ngựa hung hăng. Nhưng ngay lúc này, chỉ bởi vì nó thật khủng khiếp, vì người ta có thể ngã gãy cổ, và có bác sĩ đứng ở mỗi chướng ngại vật, đàng kia một bệnh viện dã chiến với chữ thập trên đó, và một bà sơ y tá, chàng ta đã quyết định tham dự cuộc đua.” Hoặc bởi vì một mẩu quan sát xã hội: “Vassenka Veslovsky trước đó hoàn toàn không có khái niệm gì về việc nó thật sự hợp mốt khi một vận động viên mặc thời trang rách rưới thay vì trang phục săn bắn chất lượng tốt nhất. Giờ đây anh đã thấy điều đó khi nhìn Stepan Arkadyevich, rạng rỡ trong trang phục rách, duyên dáng, no đủ, và vui sướng, một quý tộc Nga điển hình. Và anh quyết định lần tới tham dự cuộc săn bắn anh chắc chắn sẽ ăn vận y hệt.” Hoặc bởi vì cuộc đua ngựa vượt chướng ngại khó quên của Vronsky và cú té khá bi kịch của con ngựa Anh đẹp đẽ; hoặc cuộc trò chuyện của Dolly với người nữ nô lệ về con cái và nghĩa vụ của việc làm phụ nữ; hoặc Levin gặt lúa với những người nông dân trên cánh đồng, người nông dân già thách thức anh “Một khi đã nắm sợi dây, không bỏ ra được đâu!” và tất cả nông dân chờ đợi người chủ của mình bỏ cuộc trước áp lực nhưng cuối cùng hầu hết đều mừng vì anh ta không chịu thua; hoặc phân đoạn, được lấy từ chính tình sử của Tolstoi và vợ ông, trong đó Levin và Kitty trò chuyện bằng cách viết bằng phấn lên mặt bàn những ký tự viết tắt của những từ ngữ; hoặc sự quyết tâm của Alexei Karenin để trở thành một nhà quý tộc và chức sắc Thiên Chúa Giáo và sự bất lực của anh trong việc theo đuổi ý định ấy; hoặc cuộc viếng thăm của Anna đến con trai của nàng trong buổi sáng sinh nhật của nó; hoặc chi tiết tả sự chần chừ của Sergei, anh trai Levin, trong lúc anh đã có thể cầu hôn Varenka, và cuối cùng cả hai đều nhận ra rằng thời khắc đã qua đi mất.

Một phần pháp thuật của cuốn sách là việc nó xâm phạm quan niệm của ta về cái tỉ lệ nên tồn tại giữa tầm quan trọng của một sự kiện và không gian được giành cho nó trên trang giấy. Việc Vronsky đột ngột nhận ra sự thật rằng anh ta bị ràng buộc với Anna không phải bởi tình yêu mà bởi sự kết thúc của tình yêu, một nhận thức làm thay đổi tất cả mọi hiểu biết của ta về mối tình của hai người, được xử lý chỉ trong vài dòng; trong khi đó nhiều trang được sử dụng để tả khám phá của Levin về việc tất cả áo sơ mi của anh đã được xếp vào hành lý và anh không còn áo để mặc cho đám cưới của mình. Chính là mức độ chú ý được giành cho những cái áo đã làm Matthew Arnold kêu lên rằng cuốn sách này không nên được tiếp nhận như nghệ thuật mà nên như là chính cuộc sống, và có thể hình ảnh này gợi ý năng lượng của trí thông minh động vật (the energy of animal intelligence) đã đánh dấu Tolstoi như một tiểu thuyết gia. Bởi vì ta thấy một cách tóm lược nhận thức của ông rằng tinh thần con người thì luôn luôn nhận được sự độ lượng từ cái hiện thực và tầm thường, cảm thức đam mê của ông rằng cái hiện thực và tầm thường là quan trọng nhất, niềm tin chắc chắn của ông rằng chúng không phải là thứ quan trọng cuối cùng. Nghe có vẻ như một loại kiến thức khiêm tốn? Chúng ta đừng tự lừa dối mình – để hiểu tinh thần vô điều kiện thật sự không quá khó, nhưng không có kiến thức nào hiếm hơn sự hiểu biết về tinh thần bởi vì nó hiện hữu dưới những điều kiện không trốn thoát được mà cái hiện thực và tầm thường gây dựng.



[1] Mặc dù đủ mạnh để đem đến cho ta nhân vật anh trai của Levin tên là Nicolai, người mà sự thất vọng về cuộc sống thật là toàn diện và đâm rễ thật sâu giống như bất cứ nhân vật nào khác của Dostoevski.



Monday, December 10, 2012

Thượng Đế Thì Cười - Nguyễn Khải


Trước khi đọc cuốn này, tôi đã được biết lơ mơ đến ông Nguyễn Khải qua một bài viết của Vương Trí Nhàn. Đại loại có đoạn chỉ trích hơi gay gắt. Thế là thành kiến với ông Nguyễn Khải, có lẽ lại là một Tố Hữu, một Chế Lan Viên, một Hoài Thanh nữa chăng?

Đọc bài viết ngắn về Nguyễn Khải của Nguyên Ngọc nằm ở những trang cuối sách trước tiên, người ta dễ có cảm giác ừ thì bạn bè thân viết về nhau hẳn phải nói tốt. Rất bình thường thôi. Nhưng quay lại những trang ấy khi đã đọc hết tác phẩm, tôi thấy rõ rằng ông Nguyên Ngọc viết rất xác đáng, rất trung thực về bạn mình: "...sự trung thực, cả điều gọi là dũng khí của nhà văn chủ yếu phải là ở trong sáng tác của anh, chứ không phải là, chỉ là trong ứng xử hằng ngày ở đời của anh."

Cuốn sách là một tuyển tập, trong đó phần đầu gồm nhiều truyện ngắn, tạp văn và hơn 250 trang cuối là truyện dài Thượng đế thì cười. Đây thật ra giống một hồi ký, tự sự, nhìn lại cuộc đời hơn là một tiểu thuyết. Tác giả kể từ xa đến gần, tự xưng mình là "hắn".

Thẳng thắn mà nói, những tạp văn đầu sách tuy đọc được nhưng không có gì đặc biệt; còn hồi ký Thượng đế thì cười sa đà vào những kể lể cá nhân quá mức, nhiều đoạn làm người đọc khó chịu. Khi đọc được 1/3 sách, chân dung Nguyễn Khải hiện lên như một con người đạo đức giả, luôn muốn tự nhận mình là người kém tài, kém tháo vát, thích dĩ hòa vi quý, không muốn làm quan và không muốn làm hại ai. Vậy mà chính ông đã cho biết rằng mình bị nhiều bạn văn căm giận, gọi là "tên đao phủ". Như thế đủ biết Nguyễn Khải đã có thời nịnh bợ, o ép đồng chí, đồng nghiệp của mình như thế nào. Về gia đình, Nguyễn Khải hơn một lần càm ràm về bà vợ đã thất tuần mà vẫn đòi hỏi sự quan tâm của chồng, cũng như luôn sợ chồng phản bội. Bà vợ tuy tháo vát nhưng gốc nhà quê, nhiều lần làm ông xấu hổ trước bạn bè. Những chi tiết nên để trong nhật ký cá nhân hơn là viết cho thiên hạ đọc. Rồi đến những đoạn kể về cha mẹ ruột, những người không rõ đối xử với ông tệ như thế nào mà cũng hơn một lần Nguyễn Khải đã nhắc đến họ một cách hằn học, và nhắc về thời niên thiếu của mình một cách đầy cay đắng. Giống như kiểu người thanh niên gương mẫu phải phủ định quá khứ tiểu tư sản của mình. Đọc đến đó, tôi nghĩ ai cũng có ý định xếp xó cuốn sách này cho rồi. Nhưng ý định đó của tôi không thực hiện được, vì cứ tối nào mệt, chỉ muốn đọc để ru ngủ thì tôi lại cầm cuốn ấy lên đọc tiếp.

Nhìn lại, rõ ràng đọc hết cuốn sách này không phí thời gian chút nào. Khi bình tâm, tạm quên những thành kiến, tôi càng đọc càng thấy thông cảm với Nguyễn Khải. Những yêu ghét, gay gắt cá nhân đã làm tôi khó chịu, nếu đánh giá cho đúng cũng đều rất con người. Vấn đề là không ai muốn nói những chuyện không ai muốn biết ấy, đặc biệt trong một cuốn sách văn học, nhưng Nguyễn Khải vẫn chọn cách nói ra, nói hết, nói nguyên vẹn. Tình cảm lúc ấy của ông đối với sự việc như thế nào thì mấy mươi năm sao ông cũng kể lại y như vậy. Không phải vì ông muốn tỏ ra thành thật để xin xỏ lòng cảm thông của bạn đọc, như suy đoán ban đầu của tôi về một con người đạo đức giả, mà ở đây ông thành thật một cách rút ruột, rút gan, vắt kiệt tất cả để phơi bày hoàn toàn những cái xấu, những méo mó của bản thân. Như một nỗ lực làm con người trung thực lần cuối. Còn việc phán xét thế nào là tùy cảm nhận của bạn đọc.

Không rõ những tác phẩm khác của Nguyễn Khải như thế nào, nhưng đọc một đoạn tả cảnh khi ông theo xe quân đội đi thực tế chiến trường, tôi thấy một Nguyễn Khải khác hẳn cái ông già nhì nhằng, kể lể của Thượng đế thì cười. Quả thật, ông là một nhà văn có nghề. Giọng văn kể chuyện rành rọt, tuôn chảy liên tục như dòng suối, không hề vấp váp, khiến người đọc như chiếc lá cứ phải trôi hoài theo dòng chảy về phía trước. Có lẽ cái tài của Nguyễn Khải là ở đó? Ngoài ra, cuốn sách này có lẽ thuộc loại không cần phải đọc, trừ khi bạn tò mò về cuộc đời Nguyễn Khải.

Việt Lê


Thursday, December 6, 2012

Lỗi trang đầu tiên trong vài cuốn sách của Tủ Sách Tinh Hoa


Những cuốn sách trong Tủ Sách Tinh Hoa của Nxb Tri Thức đều thuộc dạng ai cũng muốn sở hữu trên tủ sách, với phương châm (có lẽ của không ít người) là mua về, để đó, từ từ đọc. Mình cũng không ngoại lệ.

Chuyện gặp phải lỗi trong sách xuất bản tại Việt Nam có lẽ không lạ gì với bạn đọc. Tuy nhiên với tầm vóc uy tín của tủ sách này, không thể ngờ rằng 3 cuốn mình đọc gần đây nhất thì cả 3 cuốn đều có lỗi ở trang đầu tiên.

Trước hết là tập tiểu luận của Roland Barthes:


Đây là trang đầu tiên có nội dung. Nhưng cước chú ở trang này đã lên đến số 3? 

Thứ hai là cuốn Tâm lí học đám đông của Gustave le Bon, trang đầu tiên đã có lỗi typo:



Cuối cùng là cuốn tiểu luận Câu chuyện vô hình & Đảo của Hamvas Béla, văn sĩ người Hungary:


 "Ra nhập": sai trầm trọng, có lẽ dịch giả quen dùng tiếng địa phương. Thật khó hiểu vì nếu search trên google ta sẽ thấy nhiều người cũng dùng "ra nhập" thay vì "gia nhập".

Hết biết mấy vị biên tập viên Nxb Tri Thức. 

Monday, November 19, 2012

Tái bản Trần Thái Đỉnh



Những quyển sách giá trị của GS Trần Thái Đỉnh tái bản sau 75. Ba cuốn hàng trên, bìa cứng, là đợt tái bản đầu tiên in khoảng năm 2005 - 2006, hai cuốn dưới vừa được tái bản lần hai trong tháng 11. 


Giáo sư/linh mục Trần Thái Đỉnh được xem là người trình bày triết Tây theo kiểu dễ tiếp cận nhất, bên cạnh Nguyễn Văn Trung, trong số những vị giáo sư triết nổi tiếng của miền Nam trước 75. Đương nhiên tôi chỉ dám đọc sơ qua cuốn mỏng nhất là Triết học Hiện sinh. So với cuốn của Trần Thiện Đạo Từ chủ nghĩa Hiện sinh đến thuyết Cấu trúc, hình như một ông đề cao Heidegger còn một ông thì phục Sartre? Cảm nhận của tôi chỉ le lói nhiêu đó thôi. Sau đây để lấp đầy bài viết, mời bạn đọc trích đoạn khá thú vị trong bài Giới thiệu của ông Bùi Văn Nam Sơn viết cho cuốn Triết học Kant của Trần Thái Đỉnh. Cũng hơi vô duyên khi cuốn đó vẫn chưa được tái bản lần hai, nghe đâu là chưa xin được giấy phép. Trở về trích đoạn bên dưới, ông Bùi Văn Nam Sơn, với vẻ trân trọng một thời đã qua với không khí học đường nhuốm màu trí thức, tự do đúng nghĩa, đã kể về những người thầy của mình: 


"Giữa không khí nóng bỏng của thời cuộc những năm 1966-68, thế hệ “tuổi hai mươi” của một số anh chị em chúng tôi lúc bấy giờ còn may mắn được ngồi trên ghế nhà trường: Khoa Triết Đại học Văn khoa Sài Gòn. Ở đó, những đầu óc măng tơ được êm đềm “dẫn vào Triết học”, được khuyến khích “nhập môn” (chứ chưa dám nói đến “nhập thất”) vào một thế giới lạ lùng, bí hiểm nhưng cũng đầy quyến rũ gợi lên bao “thao thức”, “trăn trở”, “suy tư” của tuổi trẻ. Và nhất là, lại được “dẫn vào”, được “nhập môn” bằng chính những bàn tay êm ái của nhiều vị Thầy khả kính với các phong cách khác nhau. Muốn tìm “lối vào” triết Đông ư ? Chúng tôi có Thầy Nguyễn Đăng Thục uyên bác và bừng bừng tâm huyết (trong một giờ học, Thầy chỉ mạnh tay vào một quyển sách chữ Hán – hình như là quyển “Đạo giáo nguyên lưu” - rồi gằng giọng hỏi: “thế hệ chúng tôi mất rồi, ai trong các anh chị còn đọc được những quyển sách này ?”); có Thầy Kim Định bay bổng, Thầy Nguyễn Duy Cần cặm cụi, Thầy Lê Xuân Khoa hào hoa... Còn triết Tây ? Chúng tôi có Thầy Nguyễn Văn Trung (những vấn đề cơ bản, Marx), Thầy Lý Chánh Trung (đạo đức học), Thầy Lê Thành Trị (Husserl, Sartre...)... Nhưng, “sợ” nhất vẫn là Thầy Nguyễn Văn Kiết ! Thầy nổi tiếng nghiêm khắc, lại dạy rất khó. Bốn tác giả lớn nhất và khó nhất của triết học cổ điển Đức (Kant, Fichte, Schelling, Hegel) được Thầy dồn lại trong một “cours” (giáo trình) chỉ ngót trăm trang, đọc muốn vỡ đầu mà chỉ có thể hiểu được lỏm bỏm. Mà nào phải chỉ cần đọc để tìm hiểu thôi đâu, còn “phải học” để đi thi nữa chứ; thi hỏng thì... “Thủ Đức” đang chờ sẵn ! (Chắc vì biết thế nên Thầy Lý Chánh Trung ít khi nào “nỡ” đánh hỏng chúng tôi ! Tệ lắm thì được nghe Thầy nhắc nhẹ: “Anh có đi nghe cours tôi không ?” rồi cho 10 điểm trung bình !). Cho đến một hôm, khi đang giảng về Fichte với các bài “Diễn văn cho dân tộc Đức” nổi tiếng hùng hồn trước cuộc tấn công của Napoleon, Thầy Kiết nhìn chúng tôi và trầm ngâm: “Tình hình hiện nay, ai sẽ là người đọc “Diễn văn cho dân tộc Việt” ? Câu hỏi ngắn nhưng gây chấn động tâm tư, vì đến từ một người Thầy tưởng như không hề quan tâm đến thế sự ! Chúng tôi càng bất ngờ nhưng rồi cũng hiểu được tại sao sau Tết Mậu Thân 68, Thầy, lúc ấy đã lớn tuổi và sức khỏe yếu nhiều, đã lặng lẽ chia tay chúng tôi vào tham gia kháng chiến(1). Tôi không hiểu hết những lời Thầy dạy về Kant... (dù nhờ ơn Thầy mà lần đầu tiên được nghe những từ đầy “mê hoặc”: siêu nghiệm, võng luận, Antinomie...), nhưng Thầy đã ghi đậm lên tim tôi cái lẽ phải thông thường chẳng cần “triết lý “ cao xa: “quốc gia hưng vong...”. Công ơn Thầy lớn quá !

Thầy Lê Thành Trị một hôm cầm quyển “Phê phán Lý tính thuần túy” (bản dịch tiếng Pháp) dày cộm, nâng cao lên cho chúng tôi thấy, rồi nói: “Các Ông các Cô” [Thầy luôn cố ý gọi chúng tôi như thế để tỏ lòng tôn trọng sinh viên trong “môi trường” đại học] học Triết học chuyên nghiệp thì phải đọc hết quyển này !”. Nghe lời Thầy, tôi tìm đến “Thư viện quốc gia” ở đường Gia Long (bây giờ là “Thư viện Khoa học xã hội” ở đường Lý Tự Trọng) rón rén mượn quyển sách... xem thử. Bác thủ thư nhận thẻ, ngước nhìn tôi bằng cặp mắt nghi ngờ, nhưng rồi cũng chịu khó xuống kho lục tìm. Ngót 15 phút sau, tôi mới được cầm trên tay quyển sách nặng trịch, bám bụi, trịnh trọng tìm một góc ngồi thật êm ái ở hành lang cổ kính, rồi dỡ ra... đọc. Lật tới lật lui năm bảy lần, thử ráng đọc vài đoạn mới biết sức mình có hạn, trong khi ngoài cửa sổ kia, hàng me xanh quá, và chiều Sài Gòn thơ mộng quá ! Cố ngồi náng thêm nửa tiếng đồng hồ mới dám... rón rén mang trả chỉ vì sợ gặp lại ánh mắt của bác thủ thư! May sao, chẳng biết nhờ đâu, tôi tìm đọc được bài giảng của Thầy Trần Thái Đỉnh – hình như là bài giảng của Thầy ở Đại chủng viện Xuân Bích -, sau này được in và công bố (“Triết học Kant”, NXB Văn Mới, 1974). Tôi không may mắn được Thầy trực tiếp dạy về Kant. Ở “Văn khoa”, chúng tôi chỉ được nghe Thầy giảng về triết học hiện đại, và cũng là lần đầu tiên được nghe Thầy giới thiệu về thuyết cấu trúc (bấy giờ gọi là “Cơ cấu luận”) mà nay chỉ còn nhớ được đôi câu trích dẫn đầy “ấn tượng”: “Chúng ta không nói mà bị nói; không làm mà bị làm” v.v.. của những F. Saussure, C.L.Strauss... mới toanh ! Nhờ Thầy, chúng tôi được biết ít nhiều về triết học hiện đại, nhưng với riêng tôi, bài giảng về Kant của Thầy nói trên thật đã “cứu nguy” đúng lúc để giúp tôi phần nào hiểu được “cours” hóc búa của Thầy Nguyễn văn Kiết và nhất là khóa giảng rất khó và rất sâu của Thầy Lê Tôn Nghiêm về quyển “Kant và vấn đề Siêu hình học” của M. Heidegger. Không hiểu Kant, làm sao hiểu nỗi M. Heidegger bàn gì về Kant ! Từ đó và mãi đến hôm nay, quyển “Triết học Kant” của Thầy Trần Thái Đỉnh (cùng với hai bản dịch rất quý của Thầy về Descartes: “Luận văn về phương pháp”/“Discours de la methode” và “Những suy niệm Siêu hình học”/“Meditations métaphysique”, 1962) và quyển “Kant và vấn đề Siêu hình học” của Thầy Lê Tôn Nghiêm luôn theo sát bên tôi không chỉ như kỷ vật đáng nâng niu của một thuở hoa niên mà còn như hai vị Thầy lặng lẽ, lúc nào cũng ở bên cạnh mình để sẳn sàng chỉ dạy mỗi khi cần ôn lại một định nghĩa, tìm cách dịch một thuật ngữ nào đó. Gần đây, khi dịch và chú giải quyển “Phê phán Lý tính thuần túy” của Kant (NXB Văn học 2004) (ôi, quyển sách đầy kỷ niệm trong tay Thầy Lê Thành Trị thuở nào !), tôi đã trộm phép Thầy Trần Thái Đỉnh để sử dụng lại một số thuật ngữ tiếng Việt quan trọng được Thầy dùng để dịch Kant mà đến nay tôi vẫn chưa tìm thấy cách dịch nào tốt hơn: “niệm thức” (Schema), “Ý thể” (das Ideal), “Phân tích pháp” (Analytik)  v.v.., để chỉ xin đơn cử một hai ví dụ.

Các Thầy không chỉ trao truyền cho chúng tôi vốn kiến thức cơ bản, mà quan trọng hơn, đã thắp lên trong chúng tôi lòng khao khát học hỏi, lòng quý trọng đạo lý (Thầy Nguyễn Đăng Thục từng nửa đùa nửa thật bảo chúng tôi nên dịch chữ “Philo-sophia” của triết Tây thành “Minh Đức hữu hoài” !). Và Thầy Trần Thái Đỉnh, Thầy Lê Tôn Nghiêm... đều luôn khuyên rằng: học triết học là phải biết đặt câu hỏi; câu hỏi có khi quan trọng hơn câu trả lời; phải biết lùi lại để “đặt thành vấn đề” những gì tưởng đã giải quyết xong, phải biết lắng nghe và tôn trọng người khác vì chân lý chẳng của riêng ai và cũng chẳng dễ tìm. Hiện thân cho tinh thần ấy một cách mạnh mẽ và đầy thuyết phục không ai khác hơn là chính I. Kant, đối tượng được tìm hiểu trong quyển sách này. Do đó, nhân dịp tái bản quyển “Triết học Kant” của Thầy Trần Thái Đỉnh, được Nhà xuất bản gợi ý và được Thầy rộng lòng cho phép, tôi muốn nhân cơ hội quý báu này để trước hết, bày tỏ lòng biết ơn Thầy của một người học trò cũ và, sau đây, xin kính cẩn góp vài suy nghĩ “nối điêu”.

..."

(Trích từ SáchHay.org)

Sunday, November 11, 2012

Chưa Đủ Cô Đơn Cho Sáng Tạo - Inrasara



Tập tiểu luận phê bình Chưa đủ cô đơn cho sáng tạo của nhà thơ Inrasara là một cuốn sách mang tính giải trí nhiều hơn là học thuật. Nói như vậy không có nghĩa những bài viết trong sách không đủ nghiên cứu và nghiêm túc. Thật ra, là một nhà thơ, tác giả đã rất thành công trong việc thi hóa văn xuôi của mình trong một thể loại dễ trở thành khô khan. Văn phong dứt khoát, gãy gọn, nhiều khi quá gọn. Tác giả múa bút (hay múa phím) tự tin như đang đọc tuyên ngôn. Inrasasa dùng câu ngắn, từ gọn nhưng không khô cứng. Từng câu, từng chữ mang tính bất ngờ, phá cách của thơ. Do đó, sách bàn chủ đề có vẻ to lớn nhưng đọc rất gần gũi, hấp dẫn, lôi cuốn và mang tính giải trí cao.

Trong tập tiểu luận, bài chủ đề Chưa đủ cô đơn cho sáng tạo chỉ đơn giản viết xuống một điều mà nhiều người cầm bút có lẽ đã biết, nhưng ít ai nói ra. Người đọc liếc qua tựa là có thể đoán nội dung – như một hồi chuông cảnh tỉnh cho những ai đã và đang dần đánh mất cái tôi sáng tạo trong cái bẫy của tập thể văn nghệ, của truyền thông. Là bài chủ đề, nhưng không phải hay nhất. Có thể nói Bế tắc trong sáng tạo mới là bài tiểu luận đặc sắc nhất của cuốn sách. Tác giả đưa ra 2 câu hỏi “Tại sao bế tắc? Và làm gì khi bế tắc?” rồi trả lời, có lẽ với những kinh nghiệm bế tắc trong sáng tạo của chính ông, và từ kinh nghiệm khi quan sát văn đàn Việt Nam trong thời gian dài. Một vài lý do bế tắc theo Inrasara là do người viết, do tác động từ bên ngoài (bị chụp mũ, phản động,v..v..) và đặc biệt hơn hết do tính nghiệp dư của người cầm bút. Hầu hết đều xem văn chương như trò chơi. Chân dung nhà thơ hiện đại được Trần Ngọc Tuấn phác ra rất thành thực:

Ở quán 81
Có gã từ thâm sơn cùng cốc
Tạt uống vài li rồi vùng đi

Có gã xa quê buồn như đá
Một bàn… một ghế… một tha hương

Có gã thất tình ngồi nói mớ
U ơ… ú ớ… lú hồn thơ

Có gã lên gân xưng hùng bá
Chưa ra quân xếp bộ cuốn cờ…” (t.34)

Trong bài tiểu luận này Inrasara còn đi sâu hơn phân tích về bế tắc: sợ lặp lại, nghẽn mạch xã hội, nghẽn mạch thơ,v..v.. Trong một trang viết ta bắt gặp một lô cái tên đình đám: Lê Đạt, Đặng Đình Hưng, A. Breton, Picasso, Rilke,… Nhưng nhìn chung, một cách sơ sài, Inrasara chỉ mới gõ mạnh lên bề mặt chứ chưa làm vết nứt vươn tới được phần chìm của tảng băng. Người đọc có thể có cảm giác hơi hụt hẫng. Đó có thể cũng là cảm giác khi đọc xong một bài tiểu luận đặc sắc khác Thơ nữ trong hành trình cắt đuôi suffix “nữ”. Trong bài, tác giả nhẹ nhàng đưa ta dạo chơi nhàn hạ qua một loạt cái tên thơ nữ bắt đầu hoặc đã nổi tiếng vào thời đó (trước năm 2006): Phan Huyền Thư, Vi Thùy Linh, Thanh Xuân, Lynh Barcadi, Phương Lan, Nguyệt Phạm, Khương Hà Bùi,…

“Nhục cảm trần trụi đến bất chấp của Phương Lan, ở cấp độ khác: Lynh Barcadi, hoặc sôi nổi hồn nhiên nhưng cũng không kém buông thả ở Khương Hà Bùi, cảm nhận cuộc yêu tinh tế mà lạnh lùng của Nguyệt Phạm hay cái nhìn sắc lạnh ném vào cuộc sống đương đại của ảo/thực chồng chéo đầy bất trắc như Thanh Xuân,…” (t.62)

Những nhận xét hứng khởi nhưng cũng không thiếu ưu tư. Có thể tác giả không muốn đi sâu hơn khi những nghi ngờ về độ bền sáng tạo của những nhà thơ nữ trẻ vẫn hiện diện ám ảnh. Vì thế, Inrasara hầu như không đưa ra nhận xét nặng ký nào mà chỉ như người làm vườn sợ cây đau, tí tách bên này một ít bên kia một ít. Không chê thẳng, nhưng người đọc vẫn nhận ra ông không giành cảm tình nhiều cho Vi Thùy Linh, chỉ đánh giá cao Phan Huyền Thư, Thanh Xuân.

Phần phê bình cuối sách chỉ có 2 bài. Trong đó, bài viết về Phan Nhiên Hạo khá hay. Những bài viết về văn chương dân tộc thiểu số, văn chương Chăm thoạt nghe có thể không tạo hứng cho người đọc nhưng thật ra lại không xa lạ, rất dễ đọc và đáng đọc. Tóm lại, đây là một cuốn sách phê bình mang tính giải trí cao, lối viết hấp dẫn dễ đọc với trình độ cảm thụ đáng tin của một nhà thơ có chân tài. Nhưng, rất chủ quan thôi, hơi tiếc vì người đào giếng vẫn chưa đào đủ sâu.

Việt Lê