Sunday, January 10, 2016

Lord of the Flies - William Golding



Lord of the Flies làm mình nhớ đến Heart of Darkness, nhưng đương nhiên Lord of the Flies có cách viết dễ tiếp cận hơn nhiều lần. Tình tiết truyện lôi cuốn người đọc từ đầu đến cuối. Cuốn sách là một tuyên ngôn về bản tính con người với nhiều tầng biểu tượng. William Golding dùng hình ảnh những đứa trẻ, thường được xem như biểu tượng của sự ngây thơ, để đưa người đọc qua một hành trình dằn vặt về luân lý hoặc phân tâm học để đi đến kết luận rằng bản tính nguyên thủy của con người vẫn chỉ là hoang dã. Đã là hoang dã thì đó không thể là tính thiện như quan niệm của Khổng Manh nữa, mà phải là mạnh được yếu thua, cái xấu sẽ lên ngôi. Bản tính sơ khởi của con người, qua hình ảnh đứa trẻ, phải là tính ác, gần với ý của Tuân Tử hay Hobbes.

Về luân lý, cuộc đấu tranh giữa Ralph và Jack là đối đầu giữa Thiện và Ác. Ralph với bề ngoài đẹp như thiên thần, còn Jack thì khát máu như hình ảnh của ác quỷ. Chính trị hơn, Ralph đại diện cho dân chủ và tự do, Jack đại diện cho toàn trị và bạo lực. Khi đặt dưới diễn giải phân tâm học. Ralph, Jack và Piggy có thể xem như biểu tượng của Ego, Id và Superego. Trong đó, Ralph (Ego) như một trung điểm giữa một bên là vực thẳm bản năng của Tự ngã (Id) và một bên là lương tâm cao đẹp của Siêu ngã (Superego). Những hình ảnh cái đầu lâu cắm trên cọc, đám lửa, con "quái thú", hoang đảo, vỏ ốc, v..v.. đều là những biểu tượng quan trọng khác mà mỗi người đều có cách diễn dịch của riêng mình.

VL

Sunday, July 26, 2015

To Kill a Mockingbird - Harper Lee



To Kill a Mockingbird được kể qua góc nhìn của một bé gái sáu tuổi sống ở một thị trấn tỉnh lẻ bang Alabama, Mỹ. Câu chuyện xoay quanh một số cư dân và sự kiện xảy ra trong thị trấn, mà cao trào là phiên tòa xét xử người thanh niên da đen bị buộc tộc hiếp dâm một cô gái da trắng. Bối cảnh của sách là thập niên 30, trong khi cuốn sách được viết vào đầu những năm 60 thế kỷ trước. Trong cả hai thời kỳ, người da đen vẫn còn bị đối xử phân biệt nặng nể trong xã hội Mỹ. Do đó, người đọc dễ nhận thấy luân lý, đúng-sai là chủ đề chính của cuốn sách. Ở đó, luật sư Atticus Finch, cha của cô bé dẫn chuyện, là nhân vật trung tâm và cũng là người hùng đứng giữa để tách bạch giữa cái sai và cái đúng. Atticus Finch biết rằng ông không thể thay đổi thành kiến của cộng đồng thông qua đại diện là bồi thẩm đoàn, để giải oan cho Tom Robinson, người thanh niên da đen, nhưng ông vẫn làm cho dù điều đó ảnh hưởng đến sự an toàn của gia đình.

"It's a sin to kill a mockingbird.." là ẩn dụ mà mỗi người đọc sẽ có cách diễn giải khác nhau. Mockingbird là loài chim chỉ biết nhại tiếng con chim khác, và không làm hại ai. Ở đây, hình ảnh mockingbird có thể là đại diện cho những nạn nhân của thành kiến như Tom Robinson hoặc Boo Radley. Nhưng mặt khác "a sin to kill a mockingbird" cũng có thể là ẩn dụ rằng sự ngây thơ con trẻ bị đánh mất khi chúng phải chứng kiến bất công của xã hội, và thất bại của công lý quá sớm. Bên cạnh phiên tòa trên, Harper Lee còn kể nhiều câu chuyện khác của cư dân thị trấn Maycomb, trong đó đáng chú ý hơn cả là struggle của bà Duboise.

Đây là một cuốn sách đáng đọc, vì cách viết và tiếp cận của Harper Lee khá tài tình. Lee kể chuyện qua tư duy và cái nhìn vừa cụ non vừa ngây thơ của một bé gái tỉnh lẻ, với ngôn ngữ và sự bình lặng của vùng Deep South, khiến người đọc dễ thư giản. Ngoài những cái hay trên, To Kill a Mockingbird không đem lại nhiều hứng cảm văn học của một cuốn sách lớn.

VL



Tuesday, March 24, 2015

Heart of Darkness - Joseph Conrad



Heart of Darkness là một novella (truyện vừa) kể lại hành trình đi sâu vào trung tâm của nước Congo thuộc địa Bỉ vào thế kỷ 19. Trung tâm của Congo, trung tâm của Lục Địa Đen, nơi thời gian như dừng lại, cũng chính là điểm đến của chuyến hành trình đi tìm bổn lai diện mục của nội tâm mỗi người. Ở đó, mặt tốt và mặt trái của tính cách con người được khám phá và tách biệt rất tương phản.

Conrad dùng truyện lồng trong truyện (framed narration) với người dẫn chuyện kể lại chuyến hành trình thông qua Marlow, thuyền trưởng tàu hơi nước của một công ty "khai thác" ngà voi. Trên đường đi qua những trạm trung chuyển, Marlow được biết về Kurtz, một đại diện khác của công ty đang hoạt động ở trạm sâu nhất trong rừng già Congo. Ấn tượng về con người đặc biệt này, Marlow cố tìm gặp Kurtz và trải nghiệm nhiều sự kiện lạ lùng. Chuyến hành trình này nói lên sự tham lam, bất nhân của chính sách bóc lột thuộc địa của vua Leopold ở Châu Phi, nhưng nó chỉ thực sự gợi hứng cảm văn chương khi được soi dưới ống kính tâm phân học.

Những diễn giải dựa theo Freud cho thấy Marlow đại diện cho phần lý trí, luân lý của tâm trí con người (tức "ego") còn Kurtz, kẻ ám ảnh với ngà voi, là phần bản năng hoang dã (tức "id"). Có lẽ vì thế Marlow xem một số hành động của Kurtz rất "dã man". Chính Marlow khi nói chuyện với góa phụ của Kurtz (Intended) cũng thừa nhận mình không giống như Kurtz. Kurtz sẵn sàng vượt qua lằn ranh, còn Marlow thì không.

Một số ý kiến khác phân tích câu chuyện dựa theo Jung thì đi sâu và phức tạp hơn. Theo đó, vùng đất tối tăm này là ẩn dụ của lý thuyết Jung về vô thức cá nhân và vô thức tập thể. Còn chuyến hành trình vào sâu trong vùng tăm tối thì gợi ý đến quá trình Thành toàn bản ngã (Individuation). Đây là một quá trình mà vô thức cá nhân và vô thức tập thể dần biến chuyển thành ý thức và cuối cùng thống hợp trong tâm trí con người. Ở đây, Kurtz được xem như Bóng âm (Shadow), đại diện cho phần xấu xí của vô thức hoặc là toàn bộ vô thức. Trên hành trình khám phá bản thân và thành toàn bản ngã của mình, Marlow phải đối mặt với Kurtz, hay nói cách khác là phải đắm mình vào vô thức của chốn tối tăm, để vượt qua. Kurtz không chỉ là bóng âm cá nhân của Marlow, mà còn là bóng âm tập thể của toàn bộ chủ nghĩa đế quốc Âu Châu.

Hẳn nhiên những lạm bàn trên về cách diễn giải theo tâm lý học chỉ dựa vào sự tìm hiểu sơ sài và khó tránh được thiếu sót. Heart of Darkness là một tác phẩm chứa đầy biểu tượng, ẩn dụ và mỗi người đọc đều có cách diễn dịch của riêng mình. Tuy nhiên, để thưởng thức cho trọn vẹn cuốn sách này người đọc cần rất kiên nhẫn, tập trung vì lối viết của Conrad với những giòng suy tưởng nội tâm bất tận, đôi khi bất ngờ đổi hướng mà không cần xuống dòng, sẽ làm đau đầu và nản lòng độc giả. Hơn nữa, tiếng Anh của Conrad thực sự phức tạp (có thể do Anh ngữ không phải là tiếng mẹ đẻ của ông) làm việc tiếp cận càng khó khăn hơn.

VL

Monday, October 27, 2014

Cathedral (Thánh Đường) - Raymond Carver



Cũng như hai tập truyện ngắn trước, đối tượng của Carver trong Cathedral vẫn là những con người đại diện cho mặt trái giấc mơ Mỹ. Tuy nhiên, tập truyện ngắn Cathedral cho thấy một Carver khác hẳn với góc nhìn rộng hơn và phong cách thay đổi. Ở đó, nhân vật vẫn quẫy đạp trong những đổ vỡ, thất bại của cuộc sống, nhưng người đọc không còn thấy một không khí hoàn toàn ngột ngạt, bế tắc. Rõ ràng đây là cuốn sách mình thích nhất trong ba tập truyện của Carver, vì nó đem lại sự thỏa mãn và hy vọng. Nếu theo dõi cuộc đời thật của Carver, ta dễ thấy lý do của sự chuyển động sáng sủa này. Khoảng thời gian viết những truyện ngắn trong Cathedral là lúc cuộc sống Carver sang những trang mới khi bắt đầu sống chung với nhà thơ Tess Gallagher, người sau này trở thành vợ thứ hai của ông. Ngoài đời, Carver đã bỏ lại phần cuộc sống nghiện ngập, ngập ngụa sau cuộc đổ vỡ thứ nhất; trên trang giấy, ông ít nhiều từ bỏ luôn phong cách tiếp cận trước đây.

Một cách tổng thể, nhận định của nhà phê bình Adam Meyer là rất thích đáng khi so sánh quá trình biến hóa của bút pháp Carver qua ba tập truyện trông giống như một đồng hồ cát. Với Will You Please Be Quiet, Please? phong cách của Carver chưa rõ ràng, còn bung rộng để định hình. Với What You Talk About When You Talk About Love, văn phong trở nên cô đặc, tối giản. Đến Cathedral thì mọi thứ lại mở rộng, rời dần sự tối giản và trở nên sáng sủa hơn.

Trong phần lớn Cathedral, các câu chuyện xoay quanh chứng nghiện rượu. Các nhân vật bằng cách này hay cách khác cố tình cô lập mình với thế giới xung quanh, để trú ẩn vào rượu, cho dù họ rất cần sự cứu giúp của người khác. Nhưng càng tiếp xúc với sự giúp đỡ, họ càng chìm sâu và bế tắc hơn. Khác với các tập truyện trước, những người mắc kẹt, vô vọng này không hoàn toàn cô độc. Trong Fever, nhân vật chính không nghiện rượu nhưng leo lét tồn tại sau khi đã ly dị vợ, một mình nuôi con, bỗng tìm thấy sự cảm thông và ấm áp từ người giúp việc già (do chính cô vợ cũ giới thiệu). Người giúp việc già đóng vai cứu tinh, đã đem lại tia sáng hy vọng nơi cuối đường hầm, cũng như vai trò của người làm bánh trong truyện A Small, Good Thing. Truyện này được phát triển từ một truyện ngắn tương tự trong tập What You Talk About.. Có thể nói đây là truyện ngắn ấn tượng nhất trong toàn tập Cathedral: không khí câu chuyện căng thẳng, nuôi một cảm xúc thoi thóp nơi người đọc qua gần ba chục trang, đến đoạn cuối cả nhân vật lẫn người đọc đều được giải phóng một cách mạnh mẽ. Nếu đã quen với phong cách truyện ngắn Carver ở hai tập truyện trước, chắc hẳn ta sẽ khá ngạc nhiên với kiểu kết thúc này, cũng như sẽ ngạc nhiên với hình ảnh cuối truyện Cathedral, truyện ngắn chủ đề của toàn tập. Ở đó, người dẫn chuyện được một người mù khai sáng, hay nói thích đáng hơn là mở mắt, đưa đến một cái nhìn mới mẻ mà chưa bao giờ trong đời con người sáng mắt này được nhìn thấy. Khoảnh khắc đắt giá này lại được ví von với những khoảnh khắc của Sherwood Anderson.  

Có thể Cathedral là tập truyện mạnh mẽ, đem lại nhiều thỏa mãn khi đọc, nhưng đối với mình nó không được lắp ghép một cách tính toán, tỉ mỉ bằng một phong cách tối thiểu, mờ mịt như hai tập truyện trước. Và do đó không để lại nhiều băn khoăn.

VL

Sunday, September 21, 2014

What We Talk About When We Talk About Love - Raymond Carver



"Mình Nói Chuyện Gì Khi Mình Nói Chuyện Tình" là tựa tiếng Việt của “What We Talk About When We Talk About Love”, tập truyện ngắn được xem là nổi tiếng nhất của Raymond Carver. Nếu trong tập “Will You Please Be Quiet, Please?” trước đó, các nhân vật đều cho thấy sự lạc lõng, bối rối, trì trệ, thì trong “What We Talk..” các trạng thái bế tắc đều được đẩy xa hơn, đến mức bộc phát thành bạo lực.

Đương nhiên, những hình ảnh bạo lực như dùng búa đập chết vợ, ném đá chết người, hay cảnh vớt xác đều là những chi tiết dễ gây ấn tượng nhưng đó hoàn toàn không phải những gì hay nhất của Carver trong tập truyện này. Cái đặc sắc của “What We Talk..” là khả năng sắp đặt, lắp ghép các chi tiết và xây dựng một văn phong đặc trưng vô cùng công phu của tác giả. Khi đọc các truyện ngắn của Carver, đặc biệt là trong tập này, ban đầu tôi cảm thấy hụt hẫng nhưng đến lần đọc thứ hai thứ ba thì bắt đầu nhận ra những khoảng trống có chủ đích. Có thể nói rằng Carver cố tình xây dựng những tình tiết và kết thúc nó bằng một cách làm cho người đọc như nuốt không trôi gì đó ở cổ. Giống như bạn đọc một câu văn bị chừa trống những chỗ quan trọng và phải tự tìm từ thích hợp để điền vào. Đọc tập truyện này, ta cảm thấy những đường dẫn và chi tiết bắt cầu của cách kể chuyện truyền thống đều bị Carver loại bỏ không thương tiếc. Có lẽ vì vậy nhiều người đã gọi văn phong của Carver là tối giản?

Thế giới của Carver là khoảng tối của đường hầm không có ánh sáng, của những con người vật vờ với những vết thương cuộc đời. Những vết thương âm ỉ, nhức nhối của sự thất bại và cô đơn khi gia đình tan vỡ khiến nhân vật chính trong “Viewfinder” sẵn lòng mời người chụp ảnh dạo vào nhà. Tình huống này làm ta nhớ lại truyện người bán máy hút bụi trong tập “Will You Please..” Nhưng trong trường hợp trước, người chủ nhà có vẻ chỉ muốn sự có mặt của người salesman như một phương tiện lấp đầy khoảng trống, trong khi nhân vật chính trong “Viewfinder” muốn mời người chụp hình dạo què tay vào nhà để xem cách anh ta đối mặt và hành xử ra sao với vết thương khuyết tật của mình. Đó có thể là cách người chủ nhà, với nỗi đau đổ vỡ gia đình, làm dịu đi vết thương của chính mình khi quan sát một người khác đối mặt với nỗi đau và không may của họ. Hành động quan sát có chủ đích này, cuối cùng vẫn dẫn người quan sát quay về đối mặt với chính hình ảnh của mình, qua việc anh ta thấy cái đầu của mình đang nhìn ra cửa sổ trong tấm hình của người thợ chụp từ ngoài vào.

Cũng với mức độ đau khổ tương tự, người chủ nhà bán garage sale trong “Why Don’t You Dance?” lại chọn cách làm dịu vết thương của cuộc hôn nhân đổ vỡ bằng cách trưng bày nỗi đau của mình cho bàn dân thiên hạ xem, qua việc đem tất cả đồ dùng trong phòng ngủ, bàn ghế tủ giường bày hết ra sân nhà. Khi một cặp vợ chồng trẻ ghé vào coi, cô vợ trẻ cho rằng ông chủ nhà bán garage sale này chắc hẳn là “desperate or something”. Chi tiết này làm người đọc nhận ra sự vô vọng của người chủ nhà với vết thương của mình, đến nỗi anh ta phải tìm cách trưng bày nó ra ngoài, ngõ hầu chia bớt nỗi đau cho người khác như một phương cách cuối cùng để giải tỏa. Đoạn hội thoại không ăn nhập nhau của cặp vợ chồng trẻ và giọng văn người kể chuyện khô khốc, cộc lốc, đứt quãng gợi ý một liên tưởng từ nỗi bất hạnh của người chủ nhà đến hình ảnh đổ vỡ của cặp vợ chồng trẻ trong tương lai.

Các truyện ngắn khác trong tập này đều xoay quanh những ám ảnh vì đổ vỡ gia đình. Những ám ảnh này có thể chính là kết quả của một tâm thức luôn muốn chối bỏ, tránh mặt cuộc sống của thế giới nhân vật Carver. Ở đây, nhân vật của Carver cho thấy họ đã cố biến đổi, thích nghi với đau thương và thất bại bằng cách dịch chuyển sự quan tâm của họ vào những vấn đề khác. Nhân vật Dummy trong câu truyện ấn tượng “The Third Thing That Killed My Father Off” là ví dụ rõ nhất. Là một người thiểu năng, thiếu may mắn, mất khả năng diễn đạt bằng lời nói, Dummy luôn lo sợ không thể giữ được người vợ của mình. Chênh vênh trong đời sống gia đình, bất lực trong kiểm soát người vợ, Dummy dịch chuyển sự quan tâm và bực bội của mình vào bể cá trầm bằng cách rào bầy cá lại bằng hàng rào điện, bảo vệ chúng như báu vật, như thể anh đang ngăn người vợ khỏi nguy cơ ngoại tình. Kết cục bi thảm của câu chuyện và lời bình của một nhân vật: “Women..”, “That’s what a wrong kind of woman can do to you..” càng cho thấy rõ những đổ vỡ gia đình không hẳn là nguồn cơn của những vết thương âm ỉ của những con người đứng bên lề của giấc mơ Mỹ, như tất cả các nhân vật trong truyện của Carver. Họ đã quá lạc lõng, mất liên hệ với bản thân, và không còn biết đổ thừa cho ai, ngoài thất bại trong đời sống gia đình, để biện hộ cho cái thất bại chung to lớn hơn trong cuộc sống của chính họ.


VL

Tuesday, December 24, 2013

Luật miễn trừ ngoại giao với 2 trường hợp gần đây của Ấn Độ và Việt Nam


  
Gần đây dư luận thế giới và trong nước xôn xao với những vụ liên quan đến nguyên tắc “miễn trừ ngoại giao” (diplomatic immunity) trong luật quốc tế. Cách đây không lâu, một vị nữ quan chức lãnh sự của Ấn Độ tại Mỹ đã bị câu lưu và lục soát vì khai gian mức lương của một người giúp việc. Người dân ở Ấn Độ biểu tình phản đối Mỹ vì họ nghĩ rằng vị quan chức này bị phân biệt đối xử. Chính phủ Ấn Độ cũng cho rằng đáng lẽ ra Mỹ phải tôn trọng nguyên tắc miễn trừ ngoại giao được quy định trong Công ước Vienna về quan hệ ngoại giao năm 1961 của Liên hiệp quốc.

Thật ra, Liên hiệp quốc có hai bộ luật quy định cách đối xử cho những quan chức và nhân viên ngoại quốc. Thứ nhất là Công ước Vienna về quan hệ ngoại giao 1961, chủ yếu áp dụng cho người thuộc đại sứ quán. Thứ hai là Công ước Vienna về quan hệ lãnh sự 1963, áp dụng cho những người làm việc trong các lãnh sự quán. Có thể định nghĩa miễn trừ ngoại giao như một quy tắc để bảo vệ viên chức ngoại giao của nước ngoài không bị xét xử bởi pháp luật của nước sở tại. Quy tắc này giúp đảm bảo công việc ngoại giao giữa hai nước không bị ảnh hưởng. Khác với Công ước 1961, bộ luật 1963 cho lãnh sự chỉ cung cấp một mức độ miễn trừ ngoại giao hạn chế. Những nhân viên lãnh sự chỉ được miễn trừ ngoại giao khi chứng minh được họ đang thi hành công vụ trong lúc phạm tội. Trong trường hợp của nữ lãnh sự Ấn Độ, rõ ràng là việc mướn người giúp việc không liên quan gì đến công vụ của lãnh sự quán, mà chỉ là việc cá nhân. Có thể nói trong trường hợp này bên phía Mỹ không cho nữ lãnh sự Ấn Độ này hưởng quyền miễn trừ ngoại giao là đúng luật.

Ở một vụ khác gần hơn, đại sứ Việt Nam ở Thổ Nhĩ Kỹ là ông Nguyễn Thế Cường bị câu lưu ở sân bay Đức vì đem số tiền nhiều quá quy định. Câu hỏi ở đây là ông đại sứ này có được nhận miễn trừ ngoại giao của luật quốc tế không? Có người cho rằng ông là đại sứ Việt Nam ở Thổ Nhĩ Kỳ, nhưng lại phạm luật và bị câu lưu ở Đức (một nước thứ ba) thì ông không được hưởng quyền miễn trừ ngoại giao. Có thể điều này nghe cũng hợp logic, nhưng trong thực tế là không chính xác.


Trước hết, ông Cường là đại sứ nên Công ước Vienna về quan hệ ngoại giao 1961 sẽ được áp dụng. Công ước này cho các quan chức và nhân viên ngoại giao được hưởng một quyền miễn trừ ngoại giao rất lớn. Không những bản thân các vị quan chức ngoại giao mà cả gia đình của họ đi cùng đều được miễn trong trường hợp phạm tội. Vì vậy, nếu ông Cường phạm luật ở nước ông ta làm đại sứ thì khả năng lớn là ông ta sẽ được hưởng quyền miễn trừ ngoại giao trong hầu hết trường hợp. Chỉ khi ông phạm những tội nặng nề như giết người, hoặc Việt Nam chủ động bãi bỏ quyền miễn trừ ngoại giao của ông, thì pháp luật của Thổ Nhĩ Kỳ mới có thể đụng đến ông ta. Tuy nhiên, ở đây ông Cường phạm luật ở Đức, một nước thứ ba. Về trường hợp này, điều 40 của Công ước Vienna 1961 nói rằng nếu một nhà ngoại giao đặt chân lên một nước thứ ba trong hành trình đi đến nhiệm sở của mình, hoặc trên đường quay về đất nước quê hương, thì nước thứ ba phải đảm bảo quyền miễn trừ ngoại giao của người này, để không ảnh hưởng đến hành trình của ông ta. Ngoài ra, trong case United States v. Rosal (1960), tòa án đã công nhận rằng một nhà ngoại giao đang quá cảnh (diplomat-in-transit) sẽ được hưởng miễn trừ ngoại giao. Như vậy, theo bộ luật và theo án tiền lệ, có khả năng rất cao rằng ông Cường đại sứ Việt Nam tại Thổ Nhĩ Kỳ được hưởng miễn trừ ngoại giao tại Đức. Có nghĩa là an ninh sân bay Đức không có quyền câu lưu ông này vì tội đem quá tiền quy định. Đó là vì chúng ta biết ông Cường chỉ quá cảnh tại Đức trên đường từ Thổ Nhĩ Kỳ về Việt Nam. Nếu ông Cường không quá cảnh tại Đức trên hành trình công việc, mà đến Đức với mục đích cá nhân dài ngày thì có thể đó là một câu chuyện khác, và có khả năng ông sẽ không được hưởng miễn trừ ngoại giao. 

VL

Sunday, December 1, 2013

Will You Please Be Quiet, Please? - Raymond Carver



"Em Làm Ơn Im Đi, Được Không?" là tên bản tiếng Việt của tập truyện ngắn đầu tiên của Raymond Carver. Ở đây, Carver tập trung mô tả đời sống của lớp người Mỹ bình dân bằng kỹ thuật viết truyện ngắn rất khác lạ so với truyền thống. Qua ngòi bút Carver, người đọc hình dung ra một hiện thực lộm cộm, chông chênh, vô định từ những thân phận người lạc lõng trong một giấc mơ dang dở.

Xuyên suốt tập truyện là những câu chuyện đời thường mà nhân vật đa số đều bộc lộ những đặc điểm cho thấy họ dần mất phương hướng với cuộc sống, mất nhận thức về bản thân, và mất luôn sợi dây liên hệ với tha nhân. Với những nhân vật này, họ dường như bị một sức ì níu chân, một sức ì của giấc mơ Mỹ lý tưởng, khiến cuộc sống của họ tuy có vẻ bình thường nhưng lại rất bất thường.

Trong "Fat", qua cái nhìn của người nữ hầu bàn, hình ảnh người thực khách béo mập được kể lại thật mỉa mai. Anh ta dùng đại từ "chúng tôi" để đối thoại với những người phục vụ, trong lúc ăn hết món này đến món khác. Cơn đói của anh béo này không hẳn chỉ là cơn đói thức ăn mà còn là nỗi thèm khát sự cảm thông, thèm thuồng một người bạn. Người nữ hầu bàn và người bạn tên Rudy đều không đủ nhạy cảm để thấy được điều này. Cả hai trở về nhà, đầu óc không thôi nghĩ về hình ảnh người khách béo, nhưng lại không nhận ra bản thân chính họ cũng lạc lõng, đáng thương không kém.

Trong "Are You A Doctor?", Arnold nhận một cuộc gọi từ người đàn bà cô đơn, không bình thường, và sau vài cuộc đối thoại lạ lẫm với người này, Arnold tìm đến nhà cô ta. Những ràng buộc của một người đàn ông phương Tây trưởng thành, có vợ không cản nổi sự thèm khát một cái mới, một sự thay đổi. Tuy nhiên, cả hai không đi đến cùng với hành vi của mình. Rõ ràng sự thèm muốn của họ không phải là thú vui xác thịt. Ở đây, người đàn bà cô đơn và Arnold đều đáng thương như nhau.

"Jerry and Molly and Sam" viết khá lạ, khi đến gần cuối vẫn chưa thấy Jerry, Molly hay Sam xuất hiện. Trong truyện, nhân vật chính Al dồn sự bất mãn với cuộc sống, công việc và gia đình lên con chó Suzy và chở nó vất đi ở một nơi xa nhà. Nhưng khi Al nhận ra sự ích kỷ của mình và nỗi buồn của vợ và bọn trẻ, anh ta quay lại cố tìm con chó. Tuy nhiên, con chó Suzy thiếu trí khôn đã không còn nhận ra Al nữa. Cả câu chuyện là một chuỗi những việc không suôn sẻ; ngay cả hành động vất bỏ con chó cũng là một hành động không hoàn tất.

Cái cảm giác "loser" mà nhân vật Al mang lại còn được thấy ở nhiều nhân vật khác trong suốt tập truyện. "Sixty Acres" kể về Lee Waite, người chủ đất đi đuổi những tay săn thú lậu xâm phạm miếng đất của mình. Ông ta âm ỉ một nỗi bất an và phải gồng mình khi phải giáp mặt với kẻ lạ. Lee muốn cho thuê miếng đất để bớt gánh nặng kiểm soát nhưng lại hoàn toàn không rõ tí nào về giá trị miếng đất của mình.

Một sự mông lung trì trệ tương tự diễn ra trong truyện "Collectors". Người chủ nhà đang thất nghiệp chờ đợi thư từ bưu điện, nhưng lại bị cuốn hút một cách bị động vào sự xuất hiện của người tiếp thị máy hút bụi. Người tiếp thị già, béo, bệnh, mang dép, và biết về W. H. Auden cũng như Rilke, muốn thuyết phục người chủ nhà mua máy bằng cách hì hục hút bụi cả ngôi nhà của anh ta. Trong khi đó người chủ ngồi quan sát và nghĩ rằng anh ta chẳng cần mua máy hút bụi vì dù sao cũng sắp dọn đi, hơn nữa anh ta không có tiền. Cả hai đều hành động một cách bị động, quán tính. Có lẽ cả hai con người đều hiểu rõ sự vô ích của cuộc gặp gỡ, nhưng vẫn muốn níu kéo một chút hơi ấm người.

Những truyện khác trong tập này tiếp tục kể về motif tương tự của những con người lạc lõng, mất kết nối, trì trệ, bất mãn, bị đè nén trong một xã hội mặt trái của giấc mơ Mỹ. Tuy nhiên, cái hay của Carver là cách kể chuyện. Nhiều người bảo Carver là bậc thầy về phong cách truyện tối giản (minimalism), nhưng chính Carver có lần đã phủ nhận sự gán ghép này. Dù sao thì cách viết trong hầu hết truyện ngắn của tập "Will You Please.." đều rất quái dị nhưng cũng rất hấp dẫn. Có vẻ như chỉ có truyện ngắn cuối cùng "Will You Please Be Quiet, Please?" là được kể hơi bình thường một chút. Trong truyện, người chồng Ralph nghe người vợ Marian thú nhận ngoại tình. Ralph nổi giận, nhưng có vẻ như anh ta không giận vì cuộc ngoại tình, mà giận vì thấy ghê tởm với sự thua kém về mức độ thèm khát tính dục của mình so với người vợ. Câu nói "Will you please be quiet, please?" không hẳn là nói với người vợ, mà có thể Ralph muốn nói với tâm trí hỗn loạn của mình. Cuối cùng, truyện kết thúc với cảnh Ralph và vợ làm tình, cũng là lúc Ralph cảm thấy rõ rệt sự thay đổi chạy suốt thân mình. Khoảnh khắc của thay đổi này có sức nặng gần như những khoảnh khắc khai sáng trong truyện ngắn của Sherwood Anderson, người mà Carver ngưỡng mộ.  

VL